Luật Trợ giúp pháp lý
LUẬT
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
SỐ 69/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Luật này quy định về trợ giúp pháp lý.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về người được trợ giúp
pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý,
hoạt động trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
Điều 2.
Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của
Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Điều 3.
Trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ
pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này,
giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào
việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội,
phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Điều 4.
Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý
1. Không thu phí, lệ phí, thù lao từ người
được trợ giúp pháp lý.
2. Trung thực, tôn trọng sự thật khách
quan.
3. Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy
định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ
giúp pháp lý.
4. Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề
nghiệp trợ giúp pháp lý.
5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội
dung trợ giúp pháp lý.
Điều 5. Vụ
việc trợ giúp pháp lý
Vụ việc trợ giúp pháp lý phải liên quan đến
quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và không thuộc lĩnh vực
kinh doanh, thương mại.
Điều 6.
Chính sách trợ giúp pháp lý
1. Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà
nước.
2. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc
thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; khuyến khích, tạo điều kiện để
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư
và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ
hoạt động trợ giúp pháp lý.
Điều 7.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý
1. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức,
thành viên, hội viên và cá nhân khác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình làm cộng
tác viên trợ giúp pháp lý.
2. Cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ
chức khác có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình phối hợp, tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tài liệu cho tổ
chức thực hiện trợ giúp pháp lý để trợ giúp pháp lý.
Điều 8.
Quỹ trợ giúp pháp lý
1. Quỹ trợ giúp pháp lý được lập để hỗ trợ
nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; hỗ trợ trang thiết bị,
phương tiện làm việc cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương có khó
khăn về kinh tế.
2. Nguồn tài chính của Quỹ trợ giúp pháp lý
gồm đóng góp tự nguyện, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ ngân
sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác.
3. Quỹ trợ giúp pháp lý hoạt động không vì
mục đích lợi nhuận, được miễn thuế. Việc quản lý và sử dụng quỹ trợ giúp pháp lý
phải đúng mục đích và theo quy định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định cụ thể việc thành
lập, quản lý và sử dụng Quỹ trợ giúp pháp lý.
Điều 9.
Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Nghiêm cấm tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:
a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và
lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; phân biệt đối xử người được
trợ giúp pháp lý;
b) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi
ích nào khác từ người được trợ giúp pháp lý; sách nhiễu người được trợ giúp pháp
lý;
c) Tiết lộ thông tin, bí mật về vụ việc trợ
giúp pháp lý, về người được trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp
pháp lý đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;
d) Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện
trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 45 của
Luật này và theo quy định của pháp luật về tố tụng;
đ) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để
trục lợi;
e) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý gây
mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của
dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân;
g) Xúi giục người được trợ giúp pháp lý
khai, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện
trái pháp luật.
2. Nghiêm cấm người được trợ giúp pháp lý,
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý thực hiện
các hành vi sau đây:
a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người
thực hiện trợ giúp pháp lý;
b) Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai
sự thật về vụ việc trợ giúp pháp lý;
c) Cản trở hoạt động trợ giúp pháp lý; gây
rối, làm mất trật tự nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.
Chương II
NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 10.
Người được trợ giúp pháp lý
1. Người nghèo.
2. Người có công với cách mạng.
3. Người già cô đơn, người tàn tật và trẻ
em không nơi nương tựa.
4. Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Điều 11.
Quyền của người được trợ giúp pháp lý
1. Tự mình hoặc thông qua người thân thích,
người đại diện yêu cầu trợ giúp pháp lý.
2. Lựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp
lý; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một
trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 45 của Luật này.
3. Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.
4. Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc
trợ giúp pháp lý.
5. Được bồi thường thiệt hại theo quy định
của pháp luật.
6. Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý.
Điều 12.
Nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý
1. Cung cấp giấy tờ chứng minh là người
được trợ giúp pháp lý.
2. Cung cấp thông tin, tài liệu có liên
quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của
thông tin, tài liệu đó.
3. Tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý.
4. Không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý khác trợ giúp pháp lý cho mình về một vụ việc đang được tổ chức thực
hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp.
5. Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý
và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 13.
Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý.
2. Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý
bao gồm:
a) Tổ chức hành nghề luật sư;
b) Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật).
Điều 14.
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước do
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập.
2. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là
đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở
và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
3. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có
Giám đốc, Phó giám đốc, Trợ giúp viên pháp lý. Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Điều 15.
Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
1. Thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phối
hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý.
3. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây
ra trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý.
4. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về
trợ giúp pháp lý.
5. Giải quyết khiếu nại theo quy định tại
khoản 1 Điều 49 của Luật này.
6. Giải quyết tranh chấp trong trợ giúp
pháp lý.
7. Kiến nghị về những vấn đề liên quan đến
thi hành pháp luật.
Điều 16.
Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
1. Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế
của địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo đề
nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.
2. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Trưởng Chi nhánh là Trợ giúp viên pháp
lý và do Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Điều 17.
Đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn
pháp luật
1. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư
vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý phải đăng ký bằng văn bản về phạm vi,
hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt
động.
2. Đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý được
thực hiện theo mẫu thống nhất và phù hợp với phạm vi, hình thức, lĩnh vực pháp
luật được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động.
Điều 18.
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật khi
tham gia trợ giúp pháp lý
1. Thực hiện trợ giúp pháp lý theo Giấy
đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
2. Đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung
cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.
3. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây
ra trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý.
4. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về
trợ giúp pháp lý.
5. Giải quyết tranh chấp trong trợ giúp
pháp lý.
6. Kiến nghị về những vấn đề liên quan đến
thi hành pháp luật.
Điều 19.
Chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn
pháp luật
1. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư
vấn pháp luật chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý trong các trường hợp sau đây:
a) Tự chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý;
b) Không được tiếp tục tham gia trợ giúp
pháp lý trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính
mà còn vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Luật này;
c) Chấm dứt hoạt động theo quy định của
pháp luật.
2. Khi chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý,
tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật phải thông báo cho Sở Tư
pháp nơi đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; chuyển hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp
lý đang trợ giúp đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở địa phương nơi đăng
ký tham gia trợ giúp pháp lý và thực hiện các nghĩa vụ có liên quan.
Chương IV
NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 20.
Người thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý là Trợ
giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý.
2. Người tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm:
a) Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước (sau đây gọi là cộng tác viên);
b) Luật sư;
c) Tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ
chức tư vấn pháp luật (sau đây gọi là Tư vấn viên pháp luật).
3. Người thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì không được tham gia trợ giúp pháp lý:
a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã
bị kết án mà chưa được xoá án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm
trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính;
c) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự;
d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc
thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có
hiệu lực;
đ) Đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ
hành nghề luật sư; bị thu hồi Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật.
Điều 21.
Trợ giúp viên pháp lý
1. Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt
Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có
phẩm chất đạo đức tốt;
b) Có bằng cử nhân luật;
c) Có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ
giúp pháp lý;
d) Có thời gian làm công tác pháp luật từ
hai năm trở lên;
đ) Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ
được giao.
2. Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà
nước, làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý
theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.
3. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp
pháp lý bằng các hình thức sau đây:
a) Tư vấn pháp luật;
b) Tham gia tố tụng với tư cách người đại
diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa;
người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự; người đại diện hoặc
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án
hành chính;
c) Đại diện ngoài tố tụng cho người được
trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật;
d) Thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý
khác.
Điều 22.
Cộng tác viên
1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt
Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ
bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý mà
không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 20 của Luật này
thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên trong
các trường hợp sau đây:
a) Người có bằng cử nhân luật; người có
bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân;
b) Người thường trú ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng
trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc
có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng;
c) Luật sư, Tư vấn viên pháp luật.
2. Cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý
theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Cộng tác viên không phải là Luật sư chỉ
tham gia trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật.
3. Khi tham gia trợ giúp pháp lý, cộng tác
viên được hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính theo quy định của pháp
luật.
Điều 23.
Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý
Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo quy
định của pháp luật về luật sư, tham gia trợ giúp pháp lý với tư cách cộng tác
viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo quy định của Luật này.
Điều 24.
Tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý
Tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp
pháp lý theo sự phân công của tổ chức tư vấn pháp luật nơi họ làm việc, tham gia
trợ giúp pháp lý với tư cách cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước.
Điều 25.
Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện
trợ giúp pháp lý trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 45
của Luật này và theo quy định của pháp luật về tố tụng.
3. Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
kỹ năng trợ giúp pháp lý.
4. Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp
pháp lý.
5. Tuân thủ nội quy nơi thực hiện trợ giúp
pháp lý.
6. Kịp thời báo cáo với tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý những vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện trợ
giúp pháp lý.
Chương V
PHẠM VI, HÌNH THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Mục 1
PHẠM VI, HÌNH THỨC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 26.
Phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi
sau đây:
a) Người được trợ giúp pháp lý đang cư trú
tại địa phương;
b) Vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa
phương;
c) Vụ việc trợ giúp pháp lý do tổ chức thực
hiện trợ giúp pháp lý khác chuyển đến.
2. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư
vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý trong phạm vi đăng ký.
Điều 27.
Các hình thức trợ giúp pháp lý
1. Tư vấn pháp luật.
2. Tham gia tố tụng.
3. Đại diện ngoài tố tụng.
4. Các hình thức trợ giúp pháp lý khác.
Điều 28.
Tư vấn pháp luật
Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Luật
sư, Tư vấn viên pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp
pháp lý bằng việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp
luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.
Điều 29.
Tham gia tố tụng
1. Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia
tố tụng hình sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án hình sự.
2. Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia
tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
được trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính.
Điều 30.
Đại diện ngoài tố tụng
1. Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện
đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý khi họ không thể tự bảo
vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Việc đại diện ngoài tố tụng được thực
hiện trong phạm vi yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý.
Điều 31.
Các hình thức trợ giúp pháp lý khác
Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện
các hình thức trợ giúp pháp lý khác cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc
giúp đỡ họ hoà giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ t�c hành chính,
khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
Mục 2
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 32.
Địa điểm tiếp người được trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố
trí nơi tiếp người được trợ giúp pháp lý, bảo đảm các điều kiện để họ trình bày
yêu cầu được dễ dàng, thuận lợi.
2. Tại nơi tiếp phải niêm yết lịch tiếp,
nội quy tiếp người được trợ giúp pháp lý.
Điều 33.
Yêu cầu trợ giúp pháp lý
Người được trợ giúp pháp lý phải có đơn yêu
cầu hoặc gặp người thực hiện trợ giúp pháp lý trình bày và có giấy tờ chứng minh
là người được trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý
không thể tự mình viết đơn yêu cầu thì người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách
nhiệm ghi các nội dung vào mẫu đơn, để họ tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe và yêu
cầu họ ký tên hoặc điểm chỉ.
Điều 34.
Thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Người tiếp nhận đơn yêu cầu trợ giúp
pháp lý phải kiểm tra các nội dung có liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý;
nếu yêu cầu trợ giúp pháp lý thuộc vụ việc, đối tượng, phạm vi trợ giúp pháp lý
quy định tại các điều 5, 10 và 26 của Luật này thì phải thụ lý.
2. Trong trường hợp người được trợ giúp
pháp lý còn thiếu những giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý hoặc
giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý thì người tiếp nhận
yêu cầu phải hướng dẫn họ cung cấp các giấy tờ, tài liệu đó.
Điều 35.
Thực hiện trợ giúp pháp lý
Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực
hiện trợ giúp pháp lý phải nghiên cứu đầy đủ, toàn diện giấy tờ, tài liệu có
trong hồ sơ vụ việc liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý, các tình tiết của vụ
việc và các quy định của pháp luật có liên quan; sử dụng các biện pháp phù hợp
với quy định của pháp luật để thực hiện trợ giúp pháp lý.
Điều 36.
Phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Trong trường hợp cần xác minh các tình
tiết, sự kiện có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý ở địa phương khác thì
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đã thụ lý vụ việc được yêu cầu Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước nơi cần xác minh phối hợp thực hiện. Yêu cầu xác minh phải
bằng văn bản, nêu rõ nội dung cần xác minh và thời hạn trả lời.
2. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được
yêu cầu xác minh có trách nhiệm thực hiện và thông báo kết quả bằng văn bản kèm
theo các giấy tờ, tài liệu có liên quan cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
yêu cầu.
3. Văn bản yêu cầu xác minh, văn bản thông
báo kết quả thực hiện và các giấy tờ, tài liệu có liên quan phải được lưu giữ
trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.
Điều 37.
Chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý bằng văn bản kèm theo hồ sơ cho Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước ở địa phương khác để thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy
định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này và thông báo cho người được trợ giúp pháp
lý biết.
2. Kể từ ngày nhận được văn bản chuyển vụ
việc kèm theo hồ sơ, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có trách nhiệm thụ lý
vụ việc và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.
Điều 38.
Hoạt động tư vấn pháp luật
1. Tư vấn pháp luật được thực hiện bằng
miệng hoặc bằng văn bản; tư vấn trực tiếp, bằng thư tín, điện tín hoặc thông qua
phương tiện thông tin khác; thông qua trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt
chuyên đề pháp luật, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý và các phương thức khác.
2. Đối với vụ việc đơn giản, người thực
hiện trợ giúp pháp lý phải tư vấn ngay và ghi chép những nội dung chính trong
phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý. Phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý được lập
thành hai bản, một bản giao cho người được trợ giúp pháp lý, một bản được lưu
giữ trong hồ sơ vụ việc.
3. Đối với vụ việc phức tạp, cần có thời
gian nghiên cứu, xác minh hoặc vụ việc thiếu những giấy tờ, tài liệu có liên
quan thì người thực hiện trợ giúp pháp lý phải viết phiếu hẹn hoặc yêu cầu bổ
sung các giấy tờ, tài liệu còn thiếu.
Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể
từ ngày thụ lý vụ việc hoặc nhận đủ các giấy tờ, tài liệu cần bổ sung, người
thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho
người được trợ giúp pháp lý; trong trường hợp vụ việc cần có thời gian để xác
minh thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày.
4. Đối với vụ việc yêu cầu tư vấn được
chuyển đến bằng thư tín, người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm trả lời
bằng văn bản trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu
cầu trợ giúp pháp lý.
Điều 39.
Hoạt động tham gia tố tụng
1. Khi người được trợ giúp pháp lý yêu cầu
cử người tham gia tố tụng quy định tại Điều 29 của Luật này, trong thời hạn
không quá ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước hoặc tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm cử người thực
hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.
Việc cử người tham gia tố tụng phải được
lập thành văn bản và gửi cho người được trợ giúp pháp lý, cơ quan tiến hành tố
tụng có liên quan.
2. Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng
nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong
vụ án hình sự hoặc giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính (sau đây gọi chung là giấy chứng
nhận tham gia tố tụng) cho Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư trong thời hạn không
quá ba ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước cử người tham gia tố tụng, trừ trường hợp pháp luật tố tụng có quy định
khác.
Việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng
cho Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý do tổ chức hành nghề luật sư cử hoặc Luật
sư hành nghề với tư cách cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của
pháp luật tố tụng và pháp luật về luật sư.
3. Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của Trợ
giúp viên pháp lý, Luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường
hợp bị thu hồi hoặc Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư bị thay đổi, không được tham
gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
4. Khi tham gia tố tụng, Trợ giúp viên pháp
lý, Luật sư xuất trình giấy chứng nhận tham gia tố tụng, thẻ Trợ giúp viên pháp
lý hoặc thẻ Luật sư; có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố
tụng; được sử dụng các biện pháp mà pháp luật tố tụng quy định để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.
Điều 40.
Hoạt động đại diện ngoài tố tụng
1. Trong thời hạn không quá ba ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý
nhà nước, tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp
pháp lý làm đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý.
Việc cử người làm đại diện ngoài tố tụng
phải được lập thành văn bản và gửi cho người được trợ giúp pháp lý.
2. Khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng,
người đại diện có trách nhiệm sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của
pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.
Điều 41.
Hoạt động trợ giúp pháp lý khác
1. Theo yêu cầu của người được trợ giúp
pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tổ chức hành nghề luật sư cử người
thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý khác cho họ theo quy định tại Điều 31
của Luật này.
2. Việc thực hiện hoạt động trợ giúp pháp
lý khác phải được ghi thành biên bản.
Điều 42.
Kiến nghị thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý
Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, tổ
chức thực hiện trợ giúp pháp lý kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật. Cơ quan nhận được
kiến nghị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xem xét,
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 43.
Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, người
thực hiện trợ giúp pháp lý phải lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý. Hồ sơ vụ
việc trợ giúp pháp lý gồm có:
a) Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý;
b) Giấy tờ chứng minh là người được trợ
giúp pháp lý;
c) Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến
vụ việc trợ giúp pháp lý.
2. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được
thực hiện bằng hình thức tư vấn pháp luật, ngoài các giấy tờ, tài liệu quy định
tại khoản 1 Điều này, trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý còn phải có phiếu
thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc văn bản tư vấn pháp luật.
3. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được
thực hiện bằng hình thức tham gia tố tụng, ngoài các giấy tờ, tài liệu quy định
tại khoản 1 Điều này, trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý còn phải có các giấy
tờ sau đây:
a) Văn bản cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật
sư;
b) Bản bào chữa, bản bảo vệ quyền lợi cho
người được trợ giúp pháp lý.
4. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được
thực hiện bằng hình thức đại diện ngoài tố tụng, ngoài các giấy tờ, tài liệu quy
định tại khoản 1 Điều này, trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý còn phải có bản
báo cáo về những công việc đã thực hiện trong phạm vi đại diện ngoài tố tụng của
người thực hiện trợ giúp pháp lý.
5. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được
thực hiện bằng các hình thức trợ giúp pháp lý khác, ngoài các giấy tờ, tài liệu
quy định tại khoản 1 Điều này, trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý còn phải có
biên bản về việc thực hiện trợ giúp pháp lý.
Điều 44.
Lưu trữ hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày,
kể từ ngày hoàn thành vụ việc, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải bàn giao hồ
sơ vụ việc trợ giúp pháp lý cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Hồ sơ từng vụ việc trợ giúp pháp lý được
phân loại, đánh số, sắp xếp theo thứ tự thời gian, hình thức, lĩnh vực pháp luật
trợ giúp pháp lý và được lưu trữ trong thời hạn năm năm, kể từ ngày hồ sơ được
bàn giao.
Điều 45.
Từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Vụ việc trợ giúp pháp lý bị từ chối hoặc
không được tiếp tục thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người có yêu cầu trợ giúp pháp lý không
thuộc đối tượng quy định tại Điều 10 của Luật này;
b) Người được trợ giúp pháp lý cố tình cung
cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc;
c) Người được trợ giúp pháp lý vi phạm
nghiêm trọng nội quy hoặc có hành vi làm mất trật tự nơi thực hiện trợ giúp pháp
lý; xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý;
d) Người được trợ giúp pháp lý rút yêu cầu
trợ giúp pháp lý;
đ) Vụ việc đang được một tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý khác trợ giúp;
e) Vụ việc trợ giúp pháp lý không phù hợp
với quy định tại Điều 5 và Điều 26 của Luật này;
g) Vụ việc trợ giúp pháp lý thuộc trường
hợp chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý quy định tại Điều 37 của Luật này.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ
chối hoặc không được tiếp tục thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Đã hoặc đang thực hiện trợ giúp pháp lý
cho người được trợ giúp pháp lý là một bên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng
một vụ việc, trừ trường hợp hoà giải, giải đáp pháp luật;
b) Có quyền, lợi ích hợp pháp hoặc có người
thân thích liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý;
c) Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã từng
là người giải quyết vụ việc đó;
d) Có căn cứ khác cho rằng người thực hiện
trợ giúp pháp lý có thể không khách quan trong thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Trong trường hợp người thực hiện trợ
giúp pháp lý phải từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý
theo quy định tại khoản 2 Điều này, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cử người
khác thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý hướng dẫn,
giới thiệu người được trợ giúp pháp lý đến người thực hiện trợ giúp pháp lý khác
để được trợ giúp pháp lý.
4. Trường hợp từ chối hoặc không tiếp tục
thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện
trợ giúp pháp lý phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người được trợ giúp
pháp lý.
Chương VI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 46.
Nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
1. Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức
thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý; xây dựng chiến
lược, kế hoạch phát triển trợ giúp pháp lý.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các quy
định về chuyên môn, nghiệp vụ, tiêu chuẩn, chế độ, chính sách, quy tắc nghề
nghiệp trợ giúp pháp lý.
3. Quản lý, hướng dẫn về tổ chức và hoạt
động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước; cấp, thu hồi, thay đổi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý
của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật; xây dựng các biện pháp
hỗ trợ phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý.
4. Quản lý, bồi dưỡng đội ngũ người thực
hiện trợ giúp pháp lý; cấp, thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý; công nhận, cấp,
thu hồi thẻ cộng tác viên; quy định mẫu đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, mẫu
thẻ Trợ giúp viên pháp lý, mẫu thẻ cộng tác viên; ấn hành các tài liệu về trợ
giúp pháp lý.
5. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về
trợ giúp pháp lý.
6. Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động
và điều kiện vật chất khác cho hoạt động trợ giúp pháp lý của Nhà nước; xây
dựng, quản lý Quỹ trợ giúp pháp lý.
7. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu
nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm trong hoạt động trợ giúp pháp
lý.
8. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trợ giúp
pháp lý.
Điều 47.
Cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về
trợ giúp pháp lý.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực
hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý
nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương; có trách nhiệm bảo đảm biên chế,
kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Trung tâm trợ giúp pháp lý
nhà nước; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen
thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm về trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương.
Chương VII
XỬ LÝ VI PHẠM, GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP
Điều 48.
Xử lý vi phạm
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý, người
được trợ giúp pháp lý hoặc người khác có hành vi vi phạm quy định của Luật này
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
2. Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý có
hành vi vi phạm quy định của Luật này thì bị xử phạt hành chính, nếu gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; trong trường hợp gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì không được
tiếp tục tham gia trợ giúp pháp lý.
3. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn
cản trở, gây khó khăn cho hoạt động trợ giúp pháp lý hoặc vi phạm pháp luật về
trợ giúp pháp lý thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.
4. Hình thức, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi
phạm hành chính về trợ giúp pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 49.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Người được trợ giúp pháp lý có quyền
khiếu nại đối với các hành vi sau đây của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước,
Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái
pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình:
a) Từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý;
b) Không thực hiện trợ giúp pháp lý;
c) Thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp
lý.
Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với các hành vi quy định tại khoản
này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại; trường hợp
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Giám đốc Sở Tư pháp.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Giám đốc Sở Tư
pháp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại.
2. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về
việc cấp, thay đổi, thu hồi Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý; cấp, thu
hồi thẻ cộng tác viên; quyết định xử lý kỷ luật, quyết định xử phạt hành chính
và các quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong lĩnh vực trợ giúp
pháp lý.
Việc giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp
lý quy định tại khoản này thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
3. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm các quy định của Luật này. Việc tố cáo và
giải quyết tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
Điều 50.
Giải quyết tranh chấp
1. Trong trường hợp có tranh chấp giữa
người được trợ giúp pháp lý với Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Trung tâm
trợ giúp pháp lý nhà nước, Tư vấn viên pháp luật, tổ chức tư vấn pháp luật liên
quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý thì việc giải quyết tranh chấp được
thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
2. Trong trường hợp có tranh chấp giữa
người được trợ giúp pháp lý và Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư liên quan đến
việc thực hiện trợ giúp pháp lý thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện
theo quy định của pháp luật về luật sư và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Chương VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 51.
Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2007.
Điều 52.
Hướng dẫn thi hành
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình quy định
chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm
2006.
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Đã ký)
Nguyễn Phú Trọng
|