PHÁP LỆNH
PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ
20/2004/PL-UBTVQH11 NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 2004 VỀ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA
NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12
năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 26 tháng 12 năm
1991 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 05 tháng 7 năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 20 tháng 5 năm 1998;
Căn cứ vào Nghị quyết số 21/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của
Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2004;
Pháp lệnh này quy định về chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập
khẩu vào Việt Nam
.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh
Pháp lệnh này quy định về các biện pháp chống bán phá giá; thủ tục,
nội dung điều tra để áp dụng và việc áp dụng các biện pháp đó đối với hàng hóa
bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam .
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung được áp
dụng trong trường hợp hàng hoá bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc
đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
2. Biên độ bán phá giá là khoảng chênh lệch có thể tính được
giữa giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với giá xuất khẩu
hàng hóa đó vào Việt Nam .
3. Biên độ bán phá giá không đáng kể là biên độ bán phá giá
không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam .
4. Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá nhập
khẩu vào Việt Nam không đáng kể là khi khối lượng, số lượng hoặc trị
giá hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá bán phá giá từ một
nước không vượt quá 3% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự
nhập khẩu vào Việt Nam ;
b) Tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá bán phá giá từ
nhiều nước đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a khoản này không vượt quá 7%
tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam
.
5. Ngành sản xuất trong nước là tập hợp các nhà sản xuất
trong nước hoặc đại diện của họ có khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa
sản xuất chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng
hoá tương tự được sản xuất ở trong nước với điều kiện các nhà sản xuất này không
nhập khẩu và không có mối quan hệ liên kết trực tiếp với tổ chức, cá nhân xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
6. Hàng hóa tương tự là hàng hoá có tất cả các đặc tính
giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc trong
trường hợp không có hàng hoá nào như vậy thì là hàng hoá có nhiều đặc tính cơ
bản giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
7. Thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước là tình
trạng suy giảm đáng kể hoặc kìm hãm tăng trưởng về sản lượng, mức giá, mức tiêu
thụ hàng hoá, lợi nhuận, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm của người lao
động, đầu tư và các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc là tình
trạng dẫn đến khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước.
8. Đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
là khả năng trước mắt, rõ ràng và chứng minh được sẽ gây ra thiệt hại đáng kể
cho ngành sản xuất trong nước.
Điều 3. Xác định hàng hoá bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam
1. Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá
giá khi nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là hàng hoá bán phá giá vào Việt
Nam) nếu hàng hoá đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường theo quy định
tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2. Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có
thể so sánh được của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của
nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.
3. Trong trường hợp không có hàng hoá tương tự được bán trên thị
trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hoá tương tự
được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhưng với
khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường
của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo một trong hai cách sau
đây:
a) Giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự của nước hoặc vùng
lãnh thổ xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều
kiện thương mại thông thường;
b) Giá thành hợp lý của hàng hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác
và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông
trên thị trường của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba.
Điều 4. Các biện pháp chống bán phá giá
1. Áp dụng thuế chống bán phá giá.
2. Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá
nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt
Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam đồng ý.
Điều 5. Nguyên tắc áp dụng biện pháp chống bán phá giá
1. Biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết,
hợp lý nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong
nước.
2. Việc áp dụng biện pháp ch�ng bán phá giá chỉ được thực hiện khi
đã tiến hành điều tra và phải dựa trên các kết luận điều tra quy định tại Chương
II của Pháp lệnh này.
3. Biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng trực tiếp đối với
hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam theo quy định của Pháp lệnh này.
4. Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá không được gây thiệt
hại đến lợi ích kinh tế - xã hội trong nước.
Điều 6.
Điều kiện áp dụng
biện pháp chống bán phá giá
Biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng đối với hàng hóa bán
phá giá vào Việt Nam khi có hai điều kiện sau đây:
1. Hàng hoá bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải
được xác định cụ thể;
2. Việc bán phá giá hàng hoá quy định tại khoản 1 Điều này là
nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong
nước.
Điều 7. Trách nhiệm quản lý nhà nước về chống bán phá giá
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chống bán phá giá đối
với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam .
2. Chính phủ thành lập và quy định tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn cụ thể của cơ quan chống bán phá giá thuộc Bộ Thương mại gồm:
a) Cơ quan điều tra chống bán phá giá (sau đây gọi là cơ quan điều
tra) để tiến hành điều tra, rà soát vụ việc chống bán phá giá và trong trường
hợp cần thiết kiến nghị Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định áp dụng thuế chống
bán phá giá tạm thời;
b) Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá gồm một số thành viên
thường trực và một số thành viên khác làm việc theo từng vụ việc để xem xét các
kết luận của cơ quan điều tra; thảo luận và quyết định theo đa số về việc không
có hoặc có bán phá giá hàng hoá vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại
đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; kiến nghị Bộ trưởng Bộ Thương mại ra
quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá.
3. Bộ trưởng Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc
thực hiện quản lý nhà nước về chống bán phá giá, quyết định việc áp dụng biện
pháp chống bán phá giá và chịu trách nhiệm về quyết định này.
4. Các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối
hợp với Bộ Thương mại trong việc thực hiện quản lý nhà nước về chống bán phá giá
và áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
CHƯƠNG II
ĐIỀU TRA ĐỂ ÁP DỤNG
BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
Điều 8. Căn cứ tiến hành điều tra
1. Việc điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá được thực
hiện khi có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá của tổ chức, cá
nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước.
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá
giá được coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước khi có hai điều kiện sau
đây:
a) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá do họ sản xuất hoặc
đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương
tự của ngành sản xuất trong nước;
b) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hoá quy định tại điểm
a khoản này và của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp hồ sơ yêu cầu áp
dụng biện pháp chống bán phá giá phải lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc trị giá
hàng hoá tương tự của các nhà sản xuất trong nước phản đối yêu cầu áp dụng biện
pháp chống bán phá giá.
2. Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể ra quyết định điều tra khi có
bằng chứng rõ ràng về việc bán phá giá hàng hoá gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt
hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
Điều 9.
Hồ sơ yêu cầu áp
dụng biện pháp chống bán phá giá
Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá được gửi đến cơ
quan điều tra, bao gồm:
1. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá có các nội dung
sau đây:
a) Tên, địa chỉ và thông tin cần thiết khác của tổ chức, cá nhân có
yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
b) Mô tả hàng hoá nhập khẩu là đối tượng bị yêu cầu áp dụng biện
pháp chống bán phá giá, trong đó bao gồm tên gọi của hàng hoá, các đặc tính cơ
bản và mục đích sử dụng chính, mã số theo biểu thuế nhập khẩu hiện hành và mức
thuế nhập khẩu đang áp dụng, xuất xứ của hàng hoá nhập khẩu;
c) Mô tả khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hoá nhập khẩu quy
định tại điểm b khoản này trong thời hạn mười hai tháng trước khi nộp hồ sơ yêu
cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
d) Mô tả khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hoá tương tự được
sản xuất trong nước trong thời hạn mười hai tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp
dụng biện pháp chống bán phá giá;
đ) Thông tin về giá thông thường và giá xuất khẩu của hàng hoá được
mô tả theo quy định tại điểm b khoản này tại thời điểm nhập khẩu vào Việt Nam
trong thời hạn mười hai tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp
chống bán phá giá;
e) Biên độ bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu áp dụng
biện pháp chống bán phá giá;
g) Thông tin, số liệu, chứng cứ về thiệt hại đáng kể cho ngành sản
xuất trong nước do hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra;
h) Tên, địa chỉ và thông tin cần thiết khác của tổ chức, cá nhân
sản xuất và xuất khẩu hàng hoá vào Việt Nam bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống
bán phá giá;
i) Yêu cầu cụ thể về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thời
hạn áp dụng và mức độ áp dụng;
2. Tài liệu, thông tin liên quan khác mà tổ chức, cá nhân yêu cầu
áp dụng biện pháp chống bán phá giá cho là cần thiết.
Điều 10. Quyết định điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá
1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu xét
thấy hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá chưa đầy đủ nội dung quy
định tại Điều 9 của Pháp lệnh này, cơ quan điều tra phải thông báo cho tổ chức,
cá nhân nộp hồ sơ để bổ sung.
2. Thời hạn để bổ sung hồ sơ do cơ quan điều tra quy định nhưng
không được ít hơn ba mươi ngày, kể từ ngày tổ chức, cá nhân được yêu cầu bổ sung
hồ sơ nhận được thông báo.
3. Trước khi Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định điều tra, cơ
quan điều tra phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh
thổ xuất khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá về các quy
định chống bán phá giá của Việt Nam.
4. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ có đầy
đủ nội dung quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh này, Bộ trưởng Bộ Thương mại ra
quyết định điều tra; trường hợp đặc biệt, thời hạn ra quyết định điều tra có thể
được gia hạn nhưng không quá ba mươi ngày.
5. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra
để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cơ quan điều tra thông báo quyết định
điều tra cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá,
các nhà sản xuất, xuất khẩu, cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ
xuất khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá và công bố cho
các bên liên quan khác.
6. Bộ trưởng Bộ Thương mại không được ra quyết định điều tra nếu tổ
chức, cá nhân yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá rút hồ sơ, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 8 của Pháp lệnh này.
Điều 11. Các bên liên quan đến quá trình điều tra
Các bên liên quan đến quá trình điều tra bao gồm:
1. Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán
phá giá;
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hoá bị
yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
3. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp
chống bán phá giá;
4. Tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất hàng hoá tương tự;
5. Hiệp hội ngành hàng trong nước đại diện cho đa số tổ chức, cá
nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá tương tự;
6. Hiệp hội ngành hàng nước ngoài đại diện cho đa số tổ chức, cá
nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá
giá;
7. Tổ chức công đoàn hoặc các tổ chức khác đại diện cho quyền lợi
của người lao động trong ngành sản xuất trong nước;
8. Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
9. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam ;
10. Cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu
hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
11. Tổ chức, cá nhân khác mà quyền và lợi ích của họ có liên quan
đến quá trình điều tra.
Điều 12. Nội dung điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá
1. Xác định hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá
giá.
2. Xác định thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể
cho ngành sản xuất trong nước trên cơ sở xem xét các nội dung sau:
a) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt
Nam so với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự được sản xuất
hoặc tiêu thụ trong nước đã, đang hoặc sẽ tăng lên đáng kể một cách tuyệt đối
hoặc tương đối;
b) Tác động về giá của hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống
bán phá giá đến việc phải hạ giá hoặc kìm hãm khả năng tăng giá hợp lý của hàng
hoá tương tự trong nước;
c) Tác động xấu đến ngành sản xuất trong nước hoặc đến sự hình
thành ngành sản xuất trong nước.
3. Quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hoá vào Việt Nam với thiệt
hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
Điều 13. Cung cấp thông tin, tài liệu trong quá trình điều tra
1. Các bên liên quan đến quá trình điều tra quy định tại Điều 11
của Pháp lệnh này có trách nhiệm cung cấp thông tin xác thực và tài liệu cần
thiết theo yêu cầu của cơ quan điều tra.
2. Trường hợp thông tin, tài liệu cần thiết không được cung cấp
theo đúng yêu cầu thì cơ quan điều tra quyết định dựa trên những thông tin, tài
liệu sẵn có.
Điều 14. Tham vấn
1. Cơ quan điều tra tổ chức tham vấn với các bên liên quan đến quá
trình điều tra quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này để tạo điều kiện cho các
bên trình bày ý kiến và cung cấp thông tin cần thiết.
2. Các bên liên quan đến quá trình điều tra không bắt buộc phải có
mặt tại các cuộc tham vấn; nếu bên nào không có mặt tại các cuộc tham vấn thì
lợi ích của bên đó liên quan đến việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá vẫn
được đảm bảo.
3. Việc tiến hành tham vấn không được gây cản trở đến quá trình
điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo quy định của Pháp lệnh này.
Điều 15. Bảo mật thông tin
1. Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm giữ bí mật thông tin được cung
cấp khi nhận được yêu cầu thoả đáng của các bên liên quan đến quá trình điều tra
và yêu cầu các bên này cung cấp tóm tắt thông tin cần giữ bí mật.
2. Các bên liên quan đến quá trình điều tra được phép tiếp cận các
thông tin đã cung cấp cho cơ quan điều tra, trừ thông tin cần giữ bí mật.
Điều 16. Thời hạn điều tra
1. Thời hạn điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá là
không quá mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định điều tra.
2. Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể quyết
định gia hạn điều tra nhưng không quá sáu tháng.
Điều 17. Kết luận sơ bộ
1. Trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày có quyết định điều
tra, cơ quan điều tra công bố kết luận sơ bộ về các nội dung liên quan đến quá
trình điều tra quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này; trường hợp đặc biệt, thời
hạn công bố kết luận sơ bộ có thể được gia hạn nhưng không quá sáu mươi ngày.
2. Kết luận sơ bộ và các căn cứ chính để kết luận sơ bộ phải được
thông báo bằng phương thức thích hợp cho các bên liên quan đến quá trình điều
tra.
Điều 18. Kết luận cuối cùng
1. Khi kết thúc quá trình điều tra, cơ quan điều tra công bố kết
luận cuối cùng về các nội dung liên quan đến quá trình điều tra quy định tại
Điều 12 của Pháp lệnh này.
2. Kết luận cuối cùng và các căn cứ chính để
kết luận cuối cùng phải được thông báo bằng phương thức thích hợp cho các bên
liên quan đến quá trình điều tra.
Điều 19. Chấm dứt điều tra
Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định chấm dứt điều tra trong các
trường hợp sau đây:
1. Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán
phá giá tự nguyện rút hồ sơ;
2. Kết luận sơ bộ quy định tại Điều 17 của Pháp lệnh này có ít nhất
một nội dung sau đây:
a) Không có bán phá giá theo quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh này;
b) Biên độ bán phá giá không đáng kể;
c) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá bán phá giá vào Việt
Nam không đáng kể;
d) Không có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể
cho ngành sản xuất trong nước.
CHƯƠNG III
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ
Điều 20. Áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời
1. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra, căn cứ vào
kết luận sơ bộ, Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể ra quyết định áp dụng thuế chống
bán phá giá tạm thời.
2. Thuế suất thuế chống bán phá giá tạm thời không được vượt quá
biên độ bán phá giá trong kết luận sơ bộ.
3. Thuế chống bán phá giá tạm thời có thể được bảo đảm thanh toán
bằng tiền mặt đặt cọc hoặc được bảo đảm bằng các biện pháp khác theo quy định
của pháp luật.
4. Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời không được quá
một trăm hai mươi ngày, kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp này.
5. Khi có yêu cầu của các nhà xuất khẩu hàng hóa tương tự, Bộ
trưởng Bộ Thương mại có thể gia hạn áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời
nhưng không quá sáu mươi ngày.
Điều 21. Áp dụng biện pháp cam kết
Sau khi có kết luận sơ bộ và trước khi kết thúc giai đoạn điều tra,
tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hoá thuộc đối tượng điều tra có
thể đưa ra cam kết với Bộ Thương mại, với các nhà sản xuất.
|
|
TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Văn An
|