PHÁP LỆNH
PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ
02/2002/PL-UBTVQH11 NGÀY 4 THÁNG 10 NĂM 2002 VỀ THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM TOÀ ÁN
NHÂN DÂN
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật tổ chức Toà án nhân dân;
Pháp lệnh này quy định về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1
1. Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để
làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền
của Toà án.
2. Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật
để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án.
Điều 2
1. Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt
Nam gồm có:
A) Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
B) Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
C) Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện bao gồm Thẩm phán Toà án
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
D) Thẩm phán Toà án quân sự các cấp bao gồm
Thẩm phán Toà án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Thẩm phán
Toà án quân sự cấp quân khu bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và
tương đương; Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.
2. Hội thẩm Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:
A) Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (gọi chung là Hội thẩm nhân
dân);
B) Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự quân khu
và tương đương; Hội thẩm quân nhân Toà
án quân sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quân nhân).
Điều 3
Việc xét xử của Toà án nhân dân địa phương có Hội thẩm nhân dân
tham gia; việc xét xử của Toà án quân sự cấp
quân khu và Toà án quân sự khu vực có Hội thẩm quân nhân tham gia theo
quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.
Điều 4
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật.
Điều 5
1. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và
trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về
nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực
tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được
giao thì có thể được tuyển
chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.
2. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và
trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh
thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khoẻ
bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.
Điều 6
Thẩm phán, Hội thẩm chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 7
Thẩm phán, Hội thẩm phải giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác
theo quy định của pháp luật.
Điều 8
Thẩm phán, Hội thẩm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình mà gây thiệt hại thì Toà án nơi Thẩm phán, Hội thẩm đó thực hiện nhiệm vụ
xét xử phải có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán, Hội thẩm đã gây thiệt hại có
trách nhiệm bồi hoàn cho Toà án theo quy định của pháp luật.
Điều 9
Thẩm phán, Hội thẩm được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xét xử.
Chánh án Toà án các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm.
Điều 10
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát
của nhân dân.
Khi phát hiện hành vi trái pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm thì cơ
quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt
trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có
quyền yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại; cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ
quan có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm đối với Thẩm phán, Hội thẩm.
2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán, Hội thẩm
có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị
vũ trang nhân dân và công dân. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ
quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm
làm nhiệm vụ.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội
thẩm thực hiện nhiệm vụ.
CHƯƠNG II
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
THẨM PHÁN.
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI THẨM
PHÁN.
ĐIỀU ĐỘNG, BIỆT PHÁI
THẨM PHÁN
Điều 11
Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và
giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của
Chánh án Toà án nơi mình công tác hoặc Toà án nơi mình được biệt phái đến làm
nhiệm vụ có thời hạn.
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thẩm phán do pháp luật quy định.
Điều 12
Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành những
quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác theo quy
định của pháp luật.
Điều 13
Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật,
có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia
tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Điều 14
Thẩm phán có trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ Toà án.
Điều 15
Thẩm phán không được làm những việc sau đây:
1. Những việc mà pháp luật quy định cán bộ,
công chức không được làm;
2. Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc
người tham gia tố tụng
khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những
việc khác không đúng quy định của pháp luật;
3. Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết
vụ án hoặc lợi dụng ảnh
hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án;
4. Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ
vụ án ra khỏi cơ quan, nếu
không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền;
5. Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác
trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.
Điều 16
Thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các
trường hợp do pháp luật tố tụng quy định.
Điều 17
1. Thẩm phán có thang bậc lương riêng, được
hưởng phụ cấp trách nhiệm và các phụ cấp
khác do pháp luật quy định.
2. Thẩm phán khi đi làm nhiệm vụ được miễn phí cầu, phà, đường theo
quy định của pháp luật.
Điều 18
Thẩm phán được cấp trang phục, Giấy chứng minh Thẩm phán để làm
nhiệm vụ.
Mẫu trang phục, chế độ cấp phát và sử dụng trang phục, Giấy chứng
minh Thẩm phán do Chánh án Toà án nhân dân tối cao trình Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định.
Điều 19
1. Để bảo đảm cho các Toà án nhân dân địa
phương thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định:
A) Điều động Thẩm phán từ Toà án nhân dân địa phương này đến làm
nhiệm vụ tại Toà án nhân dân địa phương khác cùng cấp;
B) Biệt phái Thẩm phán từ Toà án nhân dân địa phương này đến làm
nhiệm vụ có thời hạn tại Toà án nhân dân địa phương khác cùng cấp.
2. Để bảo đảm cho các Toà án quân sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định:
A) Điều động Thẩm phán từ Toà án quân sự này đến làm nhiệm vụ tại
Toà án quân sự khác cùng cấp sau khi thống nhất với Chánh án Toà án nhân dân tối
cao;
B) Biệt phái Thẩm phán từ Toà án quân sự này đến làm nhiệm vụ có
thời hạn tại Toà án quân sự khác cùng cấp.
CHƯƠNG III
TIÊU CHUẨN THẨM PHÁN.
THỦ TỤC TUYỂN CHỌN,
BỔ NHIỆM, MIỄN NHIỆM,
CÁCH CHỨC THẨM PHÁN
Điều 20
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1
Điều 5 của Pháp lệnh này,
có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn
năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân
cấp huyện, Toà án quân sự khu vực, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ
thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm
Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.
Điều 21
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1
Điều 5 của Pháp lệnh này và đã là
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực ít nhất là
năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm
quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án
quân sự cấp quân khu, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm
phán Toà án nhân dân cấp tỉnh; nếu người đó là
sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự
cấp quân khu.
2. Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Toà án nhân dân,
người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đã có
thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực xét xử
những vụ án và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân
cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm
làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh;
nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm
làm Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu.
Điều 22
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1
Điều 5 của Pháp lệnh này và đã là
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu ít nhất là năm năm, có
năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của
Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương, thì có thể được tuyển chọn
và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ
quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà
án quân sự trung ương.
2. Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Toà án nhân dân,
người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đã
có thời gian làm công tác pháp luật từ mười
lăm năm trở lên, có năng lực xét xử
những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án
nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương, thì có thể được tuyển chọn và bổ
nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội
tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm
làm Thẩm phán Toà án quân sự trung ương.
Điều 23
Trong trường hợp cần thiết, người công tác
trong ngành Toà án nhân
dân hoặc người do cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền điều động đến công tác tại ngành
Toà án nhân dân tuy chưa có đủ thời gian làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp
dưới hoặc chưa có đủ thời gian làm
công tác pháp luật, nhưng có đủ
các
tiêu chuẩn khác quy định tại Điều 20 hoặc Điều 21 hoặc Điều 22 của Pháp
lệnh này, thì có thể được tuyển chọn và bổ
nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp
huyện hoặc Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ
quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển
chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự khu vực hoặc Thẩm phán Toà
án quân sự cấp quân khu hoặc Thẩm phán Toà án quân sự trung ương.
Điều 24
Nhiệm kỳ của Thẩm phán là năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.
Điều 25
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân gồm có:
A) Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự
trung ương;
B) Các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm
phán Toà án nhân dân cấp huyện;
C) Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm
phán Toà án quân sự khu vực.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán làm việc theo chế độ tập thể.
Quyết định của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành
viên biểu quyết tán thành.
Điều 26
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán
Toà án quân sự trung ương gồm có Chánh án Toà án nhân dân tối cao
làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc
phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp
hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định
theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán
Toà án quân sự trung ương có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
A) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân
dân tối cao và trình Chủ tịch nước bổ nhiệm;
B) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm
phán Toà án quân sự trung ương có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy
định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân
dân tối cao và trình Chủ tịch nước miễn nhiệm;
C) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,
Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có thể bị
cách chức chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh
này theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước
cách chức.
Điều 27
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm
phán Toà án nhân dân cấp huyện gồm có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh làm Chủ tịch, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh,
đại diện lãnh đạo Ban tổ chức chính quyền, Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh là uỷ
viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm
phán Toà án nhân
dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện do Chánh án Toà án nhân
dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân
dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân
dân cấp huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
A) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp
tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện theo đề nghị của Chánh án
Toà án nhân dân cấp tỉnh và đề nghị Chánh án
Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm;
B) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh,
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán
quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh này theo đề nghị của
Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và đề nghị
Chánh án Toà án nhân dân tối cao miễn nhiệm;
C) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh,
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện có thể bị
cách chức chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh
này theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân
cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao cách chức.
Điều 28
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm
phán Toà án quân sự khu vực gồm có Chánh án Toà án quân sự trung ương làm Chủ
tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự
khu vực do Chánh án Toà án nhân dân
tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm
phán Toà án quân sự khu vực có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
A) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán Toà án quân sự cấp
quân khu, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực theo đề nghị của Chánh án Toà án quân
sự trung ương và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm;
B) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu,
Thẩm phán Toà án quân sự khu vực có thể được
miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh
này theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự
trung ương và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao miễn nhiệm;
C) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu,
Thẩm phán Toà án quân sự khu vực có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán quy
định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án
Toà án quân sự trung ương và đề nghị Chánh án
Toà án nhân dân tối cao cách chức.
Điều 29
1. Thẩm phán đương nhiên được miễn nhiệm chức
danh Thẩm phán khi nghỉ hưu.
2. Thẩm phán có thể được miễn nhiệm chức danh
Thẩm phán do sức khoẻ, do hoàn cảnh
gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm
hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Điều 30
1. Thẩm phán đương nhiên bị mất chức danh Thẩm phán khi bị kết tội
bằng bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, Thẩm
phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm
phán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
A) Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm
quyền của Toà án;
B) Vi phạm quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này;
C) Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm
nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
D) Vi phạm về phẩm chất đạo đức;
Đ) Có hành vi vi phạm pháp luật khác.
Điều 31
1. Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án Toà
án quân sự trung ương do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề
nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
2. Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân địa phương do Chánh án
Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với
Thường trực Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp.
3. Chánh án, Phó Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân
sự khu vực do Chánh án Toà án nhân dân tối cao
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng.
4. Trước khi đề nghị Chủ tịch nước, Chánh án Toà án nhân dân tối
cao cách chức các chức vụ Chánh án, Phó Chánh
án theo quy định tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 của Điều này, nếu
người đó thuộc một trong các trường hợp có
thể bị cách chức chức danh Thẩm phán thì phải có ý kiến của Hội đồng
tuyển chọn Thẩm phán có thẩm quyền tuyển chọn Thẩm phán đó.
5. Nhiệm kỳ của Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó
Chánh án Toà án nhân dân địa phương, Toà án
quân sự là năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.
CHƯƠNG IV
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
HỘI THẨM.
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI HỘI
THẨM.
TIÊU CHUẨN HỘI THẨM.
THỦ TỤC BẦU, CỬ, MIỄN
NHIỆM, BÃI NHIỆM HỘI THẨM
Điều 32
1. Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Toà án nơi
mình được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.
2. Chánh án Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự cấp quân
khu, Toà án quân sự khu vực có trách nhiệm quản lý Hội thẩm theo Quy chế về tổ
chức và hoạt động của Hội thẩm.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban
trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam phối hợp ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.
Điều 33
1. Hội thẩm được bồi dưỡng về nghiệp vụ, tham gia hội nghị tổng kết
công tác xét xử của Toà án.
Kinh phí bồi dưỡng về nghiệp vụ cho Hội thẩm được dự toán trong
kinh phí hoạt động của Toà án nhân dân, có sự hỗ trợ của ngân sách địa phương.
2. Hội thẩm là cán bộ, công chức, quân nhân tại ngũ, công nhân quốc
phòng thì thời gian làm nhiệm vụ Hội thẩm được tính vào thời gian làm việc ở cơ
quan, đơn vị.
Điều 34
1. Hội thẩm được cấp trang phục, Giấy chứng minh Hội thẩm để làm
nhiệm vụ xét xử.
Mẫu trang phục, chế độ cấp phát và sử dụng
trang phục, Giấy chứng
minh Hội thẩm do Chánh án Toà án nhân dân tối
cao trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
2. Khi làm nhiệm vụ xét xử Hội thẩm được hưởng
phụ cấp theo quy
định của pháp luật.
Điều 35
Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các
trường hợp do pháp luật tố tụng quy định.
Điều 36
Khi được Chánh án Toà án phân công làm nhiệm vụ xét xử thì Hội thẩm
có nghĩa vụ tham gia mà không được từ chối, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Trong một năm mà Hội thẩm không được Chánh án Toà án phân công làm
nhiệm vụ xét xử thì có quyền yêu cầu Chánh án Toà án cho biết lý do.
Điều 37
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 5 của Pháp lệnh
này thì có thể được bầu làm Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương; nếu
người đó là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng đang phục vụ
trong quân đội thì có thể được cử làm Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp quân
khu, Toà án quân sự khu vực.
Điều 38
1. Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân
dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của
Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp.
2. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp quân khu do Chủ nhiệm Tổng
cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính
trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ
nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm theo
đề nghị của Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu sau khi thống nhất với cơ quan
chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương.
3. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự khu vực do Chủ nhi�m chính trị
quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giới
thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính
trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm,
bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự khu vực sau khi thống nhất
với cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương.
Điều 39
1. Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân
dân cùng cấp.
Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Hội thẩm nhân dân tiếp tục làm
nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khoá mới bầu được Hội thẩm nhân dân mới.
2. Nhiệm kỳ của Hội thẩm quân nhân là năm năm, kể từ ngày được cử.
Điều 40
1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có người được bầu
hoặc cử làm Hội thẩm có trách nhiệm tạo điều kiện để Hội thẩm làm nhiệm vụ.
2. Trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của
Chánh án Toà án thì cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có Hội thẩm đó
không được điều động, phân công Hội thẩm làm việc khác, trừ trường hợp đặc biệt.
Điều 41
1. Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lý do sức khoẻ hoặc lý do
khác.
2. Hội thẩm bị bãi nhiệm khi có vi phạm về phẩm chất đạo đức hoặc
có hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm Hội thẩm.
CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 42
Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh
về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân ngày 14 tháng 5 năm 1993.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 43
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban
trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng
dẫn, phối hợp hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
|
|
TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Văn An
|