PHÁP LỆNH
PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ
16/1999/PL-UBTVQH10 NGÀY 06 THÁNG 10 NĂM 1999 VỀ ĐO LƯỜNG
Để đo lường được thống nhất và chính xác, nhằm góp phần đảm bảo
công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân;
nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá; sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên, vật tư, năng lượng; đảm bảo an toàn; bảo vệ sức khoẻ và môi trường; đẩy
mạnh phát triển khoa học và công nghệ; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước; tạo
điều kiện thuận lợi trong giao lưu quốc tế;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 4 về Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và Chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh năm 1999;
Pháp lệnh này quy định về đo lường.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1
Đo lường là việc xác định giá trị của đại lượng cần đo.
Pháp lệnh này quy định về đơn vị đo lường hợp pháp và chuẩn đo
lường; kiểm định và hiệu chuẩn phương tiện đo; phép đo và hàng đóng gói sẵn theo
định lượng; sản xuất, buôn bán, xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện đo.
Điều 2
Nhà nước thống nhất quản lý đo lường trên cơ sở Pháp lệnh này, các
quy định khác của pháp luật và các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ký kết hoặc tham gia nhằm đảm bảo các nguyên tắc thống nhất, chính xác,
trung thực và từng bước hiện đại hoá.
Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân
dân và mọi cá nhân (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân) trong hoạt động đo lường
hoặc các hoạt động khác có liên quan đến đo lường trên lãnh thổ Việt Nam đều
phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp
luật.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền,
giáo dục, động viên nhân dân thực hiện và giám sát việc thi hành pháp luật về đo
lường.
Điều 3
Mọi tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo
những hành vi vi phạm pháp luật về đo lường. Mọi tổ chức, cá nhân có quyền kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt
động đo lường. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết kịp
thời những khiếu nại, tố cáo và kiến nghị theo quy định của pháp luật.
Điều 4
Nghiêm cấm mọi hành vi gian lận trong hoạt động đo lường.
CHƯƠNG II
ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG HỢP
PHÁP VÀ CHUẨN ĐO LƯỜNG
Điều 5
Đơn vị đo lường hợp pháp là đơn vị đo lường được Nhà nước công nhận
và cho phép sử dụng.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận Hệ đơn vị đo
lường quốc tế (viết tắt theo thông lệ quốc tế là SI).
Chính phủ quy định đơn vị đo lường hợp pháp phù hợp với Hệ đơn vị
đo lường quốc tế.
Điều 6
Tổ chức, cá nhân trong hoạt động đo lường hoặc các hoạt động khác
liên quan đến đo lường phải sử dụng đơn vị đo lường hợp pháp; trường hợp đặc
biệt được phép sử dụng đơn vị đo lường khác theo quy định của Chính phủ.
Đối với hàng hoá xuất khẩu có thể sử dụng đơn vị đo lường khác với
đơn vị đo lường hợp pháp của Việt Nam theo sự thoả thuận giữa các bên liên quan.
Điều 7
Chuẩn đo lường là phương tiện kỹ thuật để thể hiện đơn vị đo lường
và dùng làm chuẩn để xác định giá trị đại lượng thể hiện trên phương tiện đo.
Mẫu chuẩn của chất hoặc vật liệu là một dạng đặc biệt của chuẩn đo
lường để xác định thành phần và tính chất của chất hoặc vật liệu.
Hệ thống chuẩn đo lường của từng lĩnh vực đo gồm chuẩn quốc gia và
các chuẩn có độ chính xác thấp hơn.
Điều 8
Chuẩn quốc gia là chuẩn đo lường có độ chính xác cao nhất của quốc
gia được Chính phủ phê duyệt dùng làm chuẩn gốc để xác định giá trị các chuẩn
còn lại của một lĩnh vực đo. Chuẩn quốc gia phải được liên kết với chuẩn quốc tế
bằng việc định kỳ so sánh trực tiếp với chuẩn quốc tế hoặc gián tiếp qua chuẩn
quốc gia của nước ngoài.
Các chuẩn quốc gia được thiết lập phù hợp với trình độ phát triển
của nền kinh tế quốc dân và xu hướng phát triển của khoa học đo lường trên thế
giới.
Chính phủ quy định cơ quan chịu trách nhiệm duy trì, bảo quản và
khai thác các chuẩn quốc gia.
Điều 9
Các ngành, cơ sở nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và các cơ sở khác
tự trang bị chuẩn đo lường có độ chính xác cần thiết và liên kết với chuẩn quốc
gia theo yêu cầu hoạt động của mình. Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường tạo
điều kiện thuận lợi để những chuẩn này được liên kết với chuẩn quốc gia thông
qua việc hiệu chuẩn của các phòng hiệu chuẩn được công nhận theo quy định tại
Điều 17 của Pháp lệnh này.
CHƯƠNG III
KIỂM ĐỊNH PHƯƠNG TIỆN
ĐO
Điều 10
Phương tiện đo là phương tiện kỹ thuật để xác định giá trị của đại
lượng cần đo.
Kiểm định phương tiện đo (sau đây gọi là kiểm định) là việc xác
định và chứng nhận đối với phương tiện đo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định do
tổ chức có thẩm quyền hoặc được uỷ quyền kiểm định thực hiện.
Điều 11
Phương tiện đo sử dụng vào mục đích dưới đây thuộc diện phải kiểm
định:
1- Định lượng hàng hoá, dịch vụ trong mua bán và thanh toán;
2- Đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ và môi trường;
3- Giám định tư pháp, phục vụ các hoạt động công vụ khác của Nhà
nước.
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định tổ chức có thẩm quyền
hoặc được uỷ quyền kiểm định phương tiện đo, danh mục phương tiện đo phải kiểm
định, chế độ kiểm định và các yêu cầu đối với phương tiện đo phải kiểm định.
Điều 12
Chế độ kiểm định bao gồm kiểm định ban đầu, kiểm định định kỳ, kiểm
định bất thường.
1- Kiểm định ban đầu là kiểm định lần đầu đối với các phương tiện
đo sau khi sản xuất hoặc nhập khẩu.
2- Kiểm định định kỳ là kiểm định theo chu kỳ đối với các phương
tiện đo đang sử dụng.
3- Kiểm định bất thường là kiểm định đối với các phương tiện đo sau
khi sửa chữa; theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân sử dụng; phục vụ việc thanh tra
đo lường, giám định tư pháp hoặc các hoạt động công vụ khác của Nhà nước.
Điều 13
Tổ chức, cá nhân sản xuất, sửa chữa, nhập khẩu, sử dụng phương tiện
đo thuộc danh mục phải kiểm định thì phải đăng ký kiểm định theo các chế độ kiểm
định quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này.
Thủ tục đăng ký kiểm định phương tiện đo do cơ quan quản lý nhà
nước về đo lường quy định.
Điều 14
Phương tiện đo đạt yêu cầu quy định được mang dấu, tem kiểm định
hoặc được cấp giấy chứng nhận kiểm định hoặc đồng thời được mang dấu, tem kiểm
định và được cấp giấy chứng nhận kiểm định theo quy định của cơ quan quản lý nhà
nước về đo lường.
Điều 15
1- Cấm sử dụng phương tiện đo thuộc danh mục phải kiểm định trong
các trường hợp sau đây:
A) Không có dấu, tem kiểm định hoặc giấy chứng nhận kiểm định;
B) Dấu, tem kiểm định hoặc giấy chứng nhận kiểm định đã hết hiệu
lực;
C) Phương tiện đo sai, hỏng, không còn đạt yêu cầu quy định.
2- Cấm giả mạo dấu, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định hoặc
sử dụng dấu, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định với mục đích lừa đảo, gian
dối.
CHƯƠNG IV
HIỆU CHUẨN PHƯƠNG TIỆN
ĐO
Điều 16
Hiệu chuẩn là việc so sánh giá trị của đại lượng thể hiện bằng
phương tiện đo với giá trị tương ứng thể hiện bằng chuẩn đo lường.
Hiệu chuẩn được áp dụng đối với các phương tiện đo dùng làm chuẩn
và các phương tiện đo ngoài danh mục phải kiểm định; riêng các chuẩn dùng trong
kiểm định thì áp dụng chế độ kiểm định.
Việc hiệu chuẩn phương tiện đo được thực hiện bởi phòng hiệu chuẩn.
Phòng hiệu chuẩn chịu trách nhiệm về kết quả hiệu chuẩn của mình.
Điều 17
Phòng hiệu chuẩn được tổ chức công nhận có thẩm quyền đánh giá và
công nhận có đủ điều kiện theo quy định để tiến hành các hoạt động hiệu chuẩn
đối với từng lĩnh vực đo cụ thể, gọi là phòng hiệu chuẩn được công nhận.
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định tổ chức công nhận có
thẩm quyền và các điều kiện, thủ tục công nhận phòng hiệu chuẩn.
Điều 18
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở
nghiên cứu khoa học, công nghệ, sản xuất, kinh doanh phát triển hoạt động hiệu
chuẩn; xây dựng các phòng hiệu chuẩn được công nhận nhằm đảm bảo tính thống nhất
và độ chính xác cần thiết của phương tiện đo, đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh
doanh và nghiên cứu khoa học của cơ sở.
CHƯƠNG V
PHÉP ĐO VÀ HÀNG ĐÓNG
GÓI SẴN THEO ĐỊNH LƯỢNG
Điều 19
Tổ chức, cá nhân thực hiện các phép đo có ý nghĩa quan trọng liên
quan đến mục đích quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này phải sử dụng phương
tiện đo đã được kiểm định và phương pháp đo theo quy định của pháp luật; phải
tạo điều kiện thuận lợi để người có trách nhiệm, khách hàng hoặc đại diện của
khách hàng có thể kiểm tra các phép đo và phương pháp đo này.
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định các phép đo và phương
pháp đo quy định tại Điều này.
Điều 20
Hàng đóng gói sẵn theo định lượng là hàng hoá được thực hiện phép
đo định lượng và đóng gói không có sự chứng kiến của khách hàng.
Nhà nước khuyến khích việc mua bán hàng hoá theo phương thức hàng
đóng gói sẵn theo định lượng.
Tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng đóng gói sẵn theo định
lượng chịu trách nhiệm đảm bảo hàng đóng gói sẵn đúng định lượng.
Điều 21
Lượng hàng hóa đóng gói sẵn theo định lượng phải được ghi rõ trên
bao bì.
Chênh lệch giữa lượng hàng hoá thực tế và lượng hàng hoá ghi trên
bao bì không được vượt quá giới hạn cho phép.
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định danh mục hàng đóng
gói sẵn theo định lượng phải được quản lý, chênh lệch cho phép giữa lượng hàng
hoá thực tế với lượng hàng hoá ghi trên bao bì và phương pháp kiểm tra tương
ứng.
CHƯƠNG VI
SẢN XUẤT, BUÔN BÁN,
XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
PHƯƠNG TIỆN ĐO
Điều 22
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất phương tiện đo.
Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu phương tiện đo thuộc danh mục
phải kiểm định để buôn bán phải theo mẫu phương tiện đo đã được cơ quan quản lý
nhà nước về đo lường phê duyệt.
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định việc phê duyệt mẫu
phương tiện đo.
Điều 23
Tổ chức, cá nhân buôn bán phương tiện đo thuộc danh mục phải kiểm
định chỉ được buôn bán phương tiện đo đã được kiểm định.
Điều 24
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân xuất khẩu phương tiện đo.
Phương tiện đo xuất khẩu được sản xuất theo sự thoả thuận giữa các
bên liên quan.
CHƯƠNG VII
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐO
LƯỜNG
Điều 25
Nội dung quản lý nhà nước về đo lường bao gồm:
1- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về đo lường; xây dựng, ban hành và
tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, tiêu chuẩn và quy
trình về đo lường; hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn bản này;
2- Tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về đo
lường các cấp;
3- Quy định đơn vị đo lường hợp pháp; xây dựng và quản lý hệ thống
chuẩn đo lường; quy định phép đo và phương pháp đo;
4- Tổ chức hoạt động kiểm định; tiến hành kiểm định và uỷ quyền
kiểm định phương tiện đo;
5- Hướng dẫn, tổ chức và phát triển hoạt động hiệu chuẩn phương
tiện đo; tổ chức việc công nhận các phòng hiệu chuẩn và chứng nhận mẫu chuẩn;
6- Tổ chức và quản lý việc phê duyệt mẫu phương tiện đo trong sản
xuất và nhập khẩu phương tiện đo;
7- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong
lĩnh vực đo lường;
8- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ thuật về đo lường; tổ
chức và quản lý việc chứng nhận kiểm định viên đo lường;
9- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và
pháp luật về đo lường;
10- Tổ chức và quản lý việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đo
lường;
11- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về đo lường; giải
quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm pháp luật về đo lường.
Điều 26
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đo lường trong phạm vi cả
nước.
Bộ khoa học, công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm trước Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về đo lường.
Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về đo
lường thuộc Bộ khoa học, công nghệ và môi trường do Chính phủ quy định.
Điều 27
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi
nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ khoa học, công
nghệ và môi trường trong việc quản lý nhà nước về đo lường.
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đo lường.
Điều 28
Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về đo lường tại địa phương, đặc biệt
đối với việc cân đo các sản phẩm hàng hoá thiết yếu và phổ biến trong đời sống
hàng ngày của nhân dân.
Điều 29
Chính phủ quy định các loại lệ phí và phí liên quan đến hoạt động
đo lường.
CHƯƠNG VIII
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
VỀ ĐO LƯỜNG
Điều 30
1- Việc thanh tra chuyên ngành về đo lường thuộc chức năng của cơ
quan quản lý nhà nước về đo lường.
2- Tổ chức và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành về đo lường do
Chính phủ quy định.
Điều 31
Nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành về đo lường là thanh tra việc
chấp hành pháp luật về đo lường, xử phạt và kiến nghị áp dụng hoặc áp dụng theo
thẩm quyền các biện pháp phòng ngừa và chấm dứt các hành vi vi phạm pháp luật về
đo lường.
Việc thanh tra do Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thực hiện.
Điều 32
Trong quá trình thanh tra, Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có
quyền:
1- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả
lời những vấn đề cần thiết cho việc thanh tra; tiến hành các biện pháp kiểm tra
kỹ thuật tại hiện trường;
2- Đình chỉ việc sử dụng hoặc buôn bán phương tiện đo không hợp
pháp và hàng đóng gói sẵn theo định lượng không đạt yêu cầu về đo lường; tạm
thời đình chỉ việc sản xuất, kiểm định phương tiện đo trái với quy định của pháp
luật về đo lường và kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan quản lý nhà nước về đo
lường;
3- Lập biên bản, xử phạt theo thẩm quyền hoặc niêm phong phương
tiện đo không hợp pháp cùng với các tang vật khác và kiến nghị biện pháp xử lý
với cơ quan quản lý nhà nước về đo lường; trường hợp phát hiện có dấu hiệu cấu
thành tội phạm thì chuyển hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật.
Đoàn thanh tra, Thanh tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về những kết luận và các biện pháp xử lý trong quá trình thanh tra.
Điều 33
Tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có trách nhiệm tạo điều
kiện cho Đoàn thanh tra và Thanh tra viên thi hành nhiệm vụ và phải chấp hành
các quyết định của Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên.
Điều 34
Tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có quyền khiếu nại hoặc
khởi kiện về quyết định hoặc các biện pháp xử lý của Đoàn thanh tra hoặc Thanh
tra viên theo quy định của pháp luật. Trong quá trình các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét, giải quyết, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra vẫn phải
chấp hành quyết định của Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
CHƯƠNG IX
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI
PHẠM
Điều 35
Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động đo lường hoặc có
công phát hiện các vi phạm pháp luật về đo lường thì được khen thưởng theo quy
định của Nhà nước.
Điều 36
Tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận trong hoạt động đo lường;
không thực hiện các quy định về kiểm định phương tiện đo; sử dụng, sản xuất,
nhập khẩu, buôn bán phương tiện đo hoặc hàng đóng gói sẵn theo định lượng không
đúng quy định; giả mạo dấu, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định; sử dụng
dấu, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định với mục đích lừa đảo, gian dối
hoặc vi phạm những quy định khác của Pháp lệnh này thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 37
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm các quy định của
Pháp lệnh này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 38
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh này
gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì ngoài việc bị xử lý theo quy định
tại các điều 36 và 37 của Pháp lệnh này còn phải bồi thường thiệt hại theo quy
định của pháp luật.
CHƯƠNG X
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 39
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2000.
Điều 40
Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh Đo lường đã được Hội đồng Nhà nước
thông qua ngày 06 tháng 7 năm 1990.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 41
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
|
|
TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nông Đức Mạnh
|