BỘ
TƯ PHÁP
_____________
Số: 4673/TCBC-BTP
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2021
|
THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Văn bản quy phạm pháp luật
do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trong
tháng 11 năm 2021
____________________________
Thực hiện khoản 2, khoản 3 Điều 12 Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật năm 2012, Bộ Tư pháp ra Thông cáo báo chí về văn bản quy phạm
pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 11 năm 2021 như
sau:
I. DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐƯỢC BAN
HÀNH
Trong tháng 11năm 2021, Chính phủ và Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như sau:
Các Nghị định của Chính phủ:
1. Nghị định số95/2021/NQ-CP ngày 01tháng 11năm 2021
của Chính phủsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03
tháng 9 năm 2014 về kinh doanh xăng dầu;
2.Nghị định số 96/2021/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm
2021 của Chính phủvề công tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang;
3. Nghị định số 97/2021/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm
2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 23/2018/NĐ-CP
ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;
4. Nghị định số 98/2021/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm
2021 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế;
5. Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
2021 của Chính phủquy định về quản lý, thanh toán, quyết toán sử dụng vốn đầu tư
công;
6. Nghị định số 100/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm
2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2016/NĐ-CP
ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực thống kê;
7. Nghị định số 101/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm
2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP
ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày 25
tháng 5 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
122/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu,
Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn
hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định số 125/2017/NĐ-CP
ngày 16 tháng 11 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
122/2016/NĐ-CP;
8. Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn; hải quan; kinh doanh bảo hiểm,
kinh doanh xổ số; quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước; kế toán, kiểm toán độc lập;
9. Nghị định số 103/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 11 năm
2021 của Chính phủ quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô, rơ moóc hoặc
sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự ô tô sản xuất, lắp ráp
trong nước.
Các Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ:
1.Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg ngày 06tháng 11 năm
2021 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số
23/2021/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc
thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp
khó khăn do đại dịch COVID-19;
2. Quyết định số 34/2021/QĐ-TTg ngày 08tháng 11 năm
2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử trên nền
tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và Cơ sở
dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh;
3. Quyết định số 35/2021/QĐ-TTg ngày 24tháng 11 năm
2021 của Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ một số văn bản quy pham pháp luật của Thủ
tướng Chính phủ.
II. HIỆU LỰC THI HÀNH, SỰ CẦN THIẾT,
MỤC ĐÍCH BAN HÀNH VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CÁCVĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1. Nghị định số 95/2021/NQ-CP ngày 01 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 về kinh doanh xăng dầu
a) Hiệu lực thi hành: Nghị
định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 tháng 01 năm 2022.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành: Tại
thời điểm xây dựng Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, cơ cấu về nguồn chủ yếu là xăng
dầu nhập khẩu (khoảng từ 70% đến 80%); có giai đoạn sản lượng xăng trong nước
được thực hiện theo cơ chế thu điều tiết với mức thu tương đương thuế nhập khẩu
(từ ngày 3/9/2016 đến hết ngày 31/12/2016 áp dụng mức thu điều tiết là 10% đối
với sản phẩm xăng). Như vậy, việc xây dựng công thức tính giá cơ sở xăng dầu
được hình thành trên các yếu tố chi phí của nguồn nhập khẩu là phù hợp.
Bối cảnh kinh tế xã hội cũng có thay đổi so với năm
năm trước, Chính phủ có những chủ trương và chỉ đạo nhằm tháo gỡ khó khăn, cắt
giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, đặc biệt là
phát triển kinh tế tư nhân nên cần rà soát các điều kiện đầu tư kinh doanh không
còn phù hợp như việc thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu không được cho
thương nhân khác thuê kho, cầu cảng. Ngoài ra, trước nhu cầu về việc thuê và cho
thuê cửa hàng xăng dầu để kinh doanh hiện nay nên cần rà soát bổ sung quyền được
cho thuê cửa hàng xăng dầu để kinh doanh nhưng phải bảo đảm thương nhân đi thuê
cửa hàng chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu. Nghị
định số 83/2014/NĐ-CP quy định về việc sở hữu và đồng sở hữu cơ sở vật chất kinh
doanh xăng dầu, tuy nhiên, khái niệm đồng sở hữu là khái niệm chưa được giải
thích cụ thể, không rõ ràng.
Bên cạnh đó, Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đã có một số
bất cập nên phải rà soát và quy định lại cho phù hợp như việc xử lý Quỹ Bình ổn
giá âm để bảo đảm hài hòa lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng thông qua
việc thống nhất mức lãi suất hoạch toán lúc quỹ dương và vay bù đắp khi quỹ âm;
quy định thêm trách nhiệm báo cáo, công khai minh bạch Quỹ… Bên cạnh đó, trong
quá trình điều hành giá cũng cho thấy cần có sự linh hoạt hơn cho cơ quan điều
hành giá; chu kỳ điều hành giá cần linh hoạt hơn để có thể thực hiện điều hành
giá kịp thời với biến động của giá thế giới (thay vì duy trì cố định mức thời
gian tối thiểu là 15 ngày trong trường hợp tăng giá và tối đa 15 ngày trong
trường hợp giảm giá như hiện nay).
Thời gian vừa qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật
được ban hành với nhiều quy định mới như Luật đầu tư, Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, Luật quy hoạch... do đó cần rà soát các quy định tại Nghị định
số 83/2014/NĐ-CP để điều chỉnh cho phù hợp với các quy định mới (như việc không
còn cơ chế phối hợp qua thông tư liên tịch nên cần quy định những vấn đề chung
trong Nghị định, rà soát các văn bản dưới Nghị định để chỉ quy định thủ tục hành
chính và điều kiện đầu tư tại Nghị định…).
c) Nội dung chủ yếu:
Nghị định bao gồm những nội dung chính sau:
- Về đối tượng áp dụng quản lý
+ Bổ sung đối tượng quản lý bao gồm cả xăng dầu được
sản xuất từ các nguyên liệu khác dầu thô: Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số
83/2014/NĐ-CP, khái niệm về xăng dầu thuộc đối tượng quản lý chỉ bao gồm các sản
phẩm từ quá trình lọc dầu thô, dùng làm nhiên liệu, không bao gồm các thương
nhân sản xuất xăng dầu từ quá trình tái chế nguyên vật liệu khác (chất thải) vì
vậy đối tượng này chưa được quản lý. Do đó, Nghị định sửa đổi, bổ sung đã đưa
loại hình này vào đối tượng quản lý.
+ Nghị định quy định rõ về đối tượng không áp dụng
để hạn chế phát sinh thủ tục hành chính khi xác định đối tượng không áp dụng
theo đăng ký với Bộ Công Thương như quy định cũ, theo đó Nghị định không áp dụng
đối với các thương nhân nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất và pha chế các loại xăng
dầu chuyên dùng cho nhu cầu riêng của mình với số lượng không quá 200
lít/kg/tháng và không lưu thông trên thị trường.
+ Cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu
trong nước nếu có hoạt động sản xuất có thể chuyển nhượng cổ phần cho nhà đầu tư
nước ngoài nhưng phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép: Trên thực tế hiện nay,
sau quá trình cổ phần hóa, nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư để nâng cao năng lực
tài chính đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, được sự cho phép của Chính
phủ, nhiều doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong nước đã là doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó trong nội dung sửa đổi Nghị định số
83/2014/NĐ-CP đã rà soát và quy định cụ thể về vấn đề này theo hướng cho phép
các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong nước nếu có hoạt động sản xuất được
chuyển nhượng cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài nếu được Thủ tướng Chính phủ cho
phép. Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu đã góp phần cải thiện đáng kể công tác quản trị doanh nghiệp, giúp minh
bạch hơn các báo cáo tài chính, qua đó nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh,
đặc biệt là giúp cho giá trị doanh nghiệp gia tăng thông qua giá trị cổ phiếu.
Có thể thấy, các nhà đầu tư nước ngoài cũng rất am
hiểu và tuân thủ theo các quy định, pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu. Tuy nhiên, do chưa có quy định chính thức và cụ thể về tỷ lệ nắm giữ
cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài nên các doanh nghiệp trong nước cũng như các
cơ quan quản lý nhà nước rất lúng túng trong quá trình thương thảo với họ trong
việc đầu tư, phát hành tăng vốn và đặc biệt là việc thiếu đồng nhất về tỷ lệ nắm
giữ cổ phần của đối tượng này khi doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán. Do
đó, việc rà soát và bổ sung nội dung cho phép doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu
được chuyển nhượng vốn cho nhà đầu tư nước ngoài là phù hợp với thực tế đã phát
sinh và nhu cầu phát triển của ngành xăng dầu trong nước.
+ Đưa loại hình kinh doanh bằng thiết bị bán xăng
dầu quy mô nhỏ vào quản lý:
Để bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho các địa bàn vùng
sâu, vùng xa (ít được các doanh nghiệp đầu tư cây xăng do kém hiệu quả về kinh
tế), Nghị định đã bổ sung quy định đối với nội dung này theo hướng quy định điều
kiện và khu vực được phép hoạt động của các thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ đã
được kiểm định an toàn theo quy định từ các Bộ ngành liên quan. Theo đó, các
thiết bị này chỉ được bán ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, ít được doanh
nghiệp quan tâm đầu tư cây xăng (cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Công Thương). Việc
đưa ra quy định về cho phép sử dụng thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ được dựa
trên những khảo sát thực tế trên địa bàn vùng sâu, vùng xa của một số tỉnh miền
núi. Tại đây, do không có các cửa hàng xăng dầu phục vụ người dân trong khoảng
cách gần nên hiện tại người dân thường mua tích trữ vào các can nhựa và để trong
nhà hoặc một số cửa hàng bán đồ tạp hóa ở mặt đường có sử dụng một số thiết bị
tự chế để bán xăng dầu quy mô nhỏ (bình chứa khoảng 20 lít). Việc dự trữ hoặc
dùng các thiết bị tự chế để bán xăng dầu nêu trên thực sự là một mối nguy lớn có
thể dẫn đến cháy nổ, ảnh hưởng đến tính mạng của người dân. Do đó, trên cơ sở
kinh nghiệm bán xăng dầu tại một số thành phố tại các nước lân cận như Thái Lan,
Hàn Quốc, Bộ Công Thương đề xuất cho phép các thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ
được lắp đặt và bán xăng dầu tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Các điểm bán này
sẽ thuộc hệ thống của doanh nghiệp và do các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã
được cấp giấy chứng nhận kinh doanh xăng dầu (đại lý, Tổng đại lý, Thương nhân
phân phối, Thương nhân đầu mối) chịu trách nhiệm tổ chức kinh doanh nhằm bảo đảm
kiểm soát được giá bán, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ xăng dầu bán cho người
tiêu dùng. Theo khảo sát của Bộ Công Thương, các thiết bị bán xăng dầu quy mô
nhỏ có ưu điểm với mức đong tối thiểu là 0,5 lít cấp chính xác là 0,5% nên người
tiêu dùng có thể mua xăng ở mức tối thiểu là 0,5 lít, phù hợp với nhu cầu của
người dân tại các vùng khó khăn (hiện tại nếu người tiêu dùng mua xăng tại các
cửa hàng xăng dầu thì phải mua tối thiểu 2 lít trở lên vì các thiết bị bán xăng
dầu ở các cửa hàng đó chưa thể đong được xăng dầu bảo đảm độ chính xác ở mức
dưới 2 lít).
Các quy định về điều kiện đối với loại hình kinh
doanh thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ được đưa ra trong Nghị định sửa đổi, bổ
sung sẽ là những yêu cầu hết sức căn bản nhằm bảo đảm an toàn phòng cháy chữa
cháy và đo lường. Việc bổ sung đối tượng quản lý và điều kiện cụ thể cho loại
hình thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ sẽ hỗ trợ các đơn vị kinh doanh xăng dầu
trong việc có cơ sở pháp lý để mở rộng địa bàn kinh doanh xăng dầu tại vùng sâu,
vùng xa, bảo đảm nguồn cung xăng dầu phục vụ người tiêu dùng, đồng thời bảo đảm
sự quản lý của nhà nước đối với các đối tượng này.
+ Đổi tên thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập
khẩu xăng dầu thành thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu: Hiện nay, quy mô
sản xuất xăng dầu trong nước đã chiếm từ 70-75% tổng nguồn cung cho thị trường
trong nước và các thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hiện chủ
yếu mua từ nguồn sản xuất trong nước. Vì vậy, Nghị định sửa đổi, bổ sung đã quy
định thay đổi tên gọi của các doanh nghiệp đầu mối này cho phù hợp với điều kiện
thực tế. Theo đó, đổi tên thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu
thành thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu. Như vậy, thương nhân đầu mối sẽ
bao gồm 02 loại: thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu và thương nhân đầu mối
sản xuất xăng dầu.
+ Quy định lại về quyền và nghĩa vụ của thương nhân
đầu mối kinh doanh xăng dầu cho phù hợp với thực trạng cơ cấu nguồn xăng dầu
hiện hành: Với thực trạng cơ cấu nguồn xăng dầu trong nước đã có sự thay đổi với
nguồn cung trong nước chiếm trên 70%, do lượng mua trong nước là chính nên bỏ
quy định về trường hợp thu hồi giấy phép khi thương nhân không kinh doanh xuất
khẩu, nhập khẩu xăng dầu trong thời gian 01 quý trở lên (quy định tại khoản 6,
Điều 8, Nghị định số 83/2014/NĐ-CP) thay vào đó quy định về việc thu hồi giấy
xác nhận trong trường hợp không kinh doanh trong 01 quý trở lên hoặc không thực
hiện đủ tổng nguồn tối thiểu trong 02 năm. Bỏ quy định về việc giao hạn mức nhập
khẩu tối thiểu, thay vào đó quy định về giao tổng nguồn xăng dầu tối thiểu để
bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, bảo đảm an ninh năng lượng.
- Về điều kiện kinh doanh
Qua rà soát và ý kiến kiến nghị của một số địa
phương, doanh nghiệp và Hiệp hội Xăng dầu có một số nội dung gây khó khăn cho
doanh nghiệp, không phù hợp với điều kiện thực tế, Nghị định đã có những sửa
đổi, cụ thể như sau:
+ Sửa đổi điều kiện về đơn vị cho thuê kho, cầu
cảng: bỏ quy định về việc thương nhân đầu mối không được cho thuê kho, phương
tiện vận tải (quy định tại Khoản 18 Điều 9 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP) nhằm
tránh lãng phí nguồn lực xã hội khi các doanh nghiệp đầu mối đã đầu tư hệ thống
kho tương đối lớn theo quy hoạch được phê duyệt hoặc phương tiện vận tải đã đầu
tư nhưng việc sử dụng có tính thời vụ lại không thể cho thuê. Việc cho phép
thương nhân đầu mối cho thuê dịch vụ, phương tiện vận tải sẽ khuyến khích các
doanh nghiệp này đầu tư cơ sở vật chất để kinh doanh, đồng thời tránh tình trạng
các doanh nghiệp phải thành lập thêm pháp nhân mới để “lách” quy định, gây khó
khăn cho công tác quản lý nhà nước.
+ Sửa quy định về sở hữu, đồng sở hữu, thuê cửa hàng
xăng dầu: quy định về đồng sở hữu đã gây khó khăn cho cơ quan quản lý và doanh
nghiệp trong việc xác định như thế nào là đồng sở hữu trong quá trình quản lý và
đáp ứng quy định điều kiện kinh doanh. Do đó, Nghị định đã bỏ khái niệm đồng sở
hữu, thay vào đó quy định chung về khái niệm sở hữu các cơ sở vật chất kinh
doanh xăng dầu cho phù hợp với pháp luật hiện hành về các loại hình sở hữu. Theo
đó, Nghị định đã quy định về sở hữu bao gồm sở hữu riêng và sở hữu chung theo
phần (phù hợp với Luật Dân sự) với tỷ lệ sở hữu chung theo phần tối thiểu là 35%
giá trị cơ sở vật chất. Quy định tỷ lệ sở hữu chung tối thiểu 35% để vừa bảo đảm
năng lực của doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh xăng dầu, đồng thời bảo đảm
quyền quyết định của doanh nghiệp khi tham gia vào sở hữu chung cơ sở vật chất
kinh doanh xăng dầu. Do xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, cửa hàng
xăng dầu là loại hình cơ sở vật chất quan trọng nhất, bảo đảm việc cung cấp xăng
dầu cho thị trường (so với các loại hình cơ sở vật chất khác như kho, cầu cảng,
phương tiện vận tải… có thể chỉ thuê), nên đối với các thương nhân đầu mối,
thương nhân phân phối, tổng đại lý cần quy định doanh nghiệp phải sở hữu tối
thiểu 2-5 cửa hàng nhằm bảo đảm các doanh nghiệp này có đủ năng lực thực sự để
tham gia thị trường và cung ứng xăng dầu một cách ổn định, không bị phụ thuộc
quá nhiều vào chủ thể cho thuê (trong trường hợp đi thuê cửa hàng). Với tỷ lệ sở
hữu không dưới 35% sẽ không cho phép quá 02 doanh nghiệp cùng sở hữu 01 cửa hàng
xăng dầu hay 01 loại hình cơ sở vật chất kinh doanh xăng dầu gây khó khăn cho
việc quản lý của cơ quan quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, hiện nay, theo kiến nghị của các địa
phương, doanh nghiệp, để phù hợp với thực tế và quyền kinh doanh cơ sở hạ tầng
của người dân, doanh nghiệp, Nghị định quy định cho phép doanh nghiệp có thể
thuê cửa hàng xăng dầu để kinh doanh. Theo đó, bên thuê sẽ phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn với việc đáp ứng quy chuẩn cửa hàng xăng dầu và đứng tên trên Giấy
chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu. Với điều kiện này, vừa tạo
điều kiện cho doanh nghiệp có thể linh hoạt hơn trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng
kinh doanh xăng dầu vừa thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương
khi cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu trên địa bàn.
+ Sửa đổi yêu cầu về hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận
cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu: theo kiến nghị của Hiệp hội xăng dầu Việt
Nam và một số Sở Công Thương, nhiều cửa hàng xăng dầu được xây dựng và tồn tại
đã lâu (từ 15 đến trên 20 năm), khi các quy định về quản lý xây dựng, quản lý
đất đai chưa đồng bộ, quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch chi tiết xây
dựng... chưa được phê duyệt. Sau này, khi thực hiện việc cấp lại Giấy chứng
nhận, các giấy tờ nêu trên chưa phù hợp với quy định mới, đồng thời chưa được
chính quyền địa phương giải quyết dứt điểm dẫn tới khó khăn cho cơ quan quản lý
nhà nước trong việc cấp lại Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng
dầu. Nếu không cấp phép cho các cửa hàng cũ đang hoạt động do không đảm bảo về
hồ sơ, giấy tờ hợp pháp về xây dựng, sử dụng đất và yêu cầu đóng cửa thì sẽ gây
gián đoạn nguồn cung cho thị trường và gây khó khăn lớn đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng xăng dầu của xã hội. Vì vậy, Nghị định đã sửa đổi quy định về
hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu không yêu
cầu các giấy tờ liên quan đến giấy phép xây dựng và quyền sử dụng đất nếu cửa
hàng không thay đổi quy mô hoạt động.
+ Bổ sung những điều kiện cụ thể hơn đối với hoạt
động kinh doanh nhiên liệu hàng không: do việc kinh doanh nhiên liệu hàng không
đòi hỏi kỹ thuật cao, cần bảo đảm tuyệt đối an toàn về nguồn nguyên liệu cung
cấp cho các máy bay khi vận hành trên không trung (nhằm bảo đảm an toàn cho con
người khi sử dụng phương tiện máy bay). Quy định này phù hợp với các quy định
của các nước trên thế giới nên Nghị định sửa đổi, bổ sung đã quy định các điều
kiện cụ thể trong hoạt động kinh doanh nhiên liệu bay như quy định cụ thể về hệ
thống kho đầu mối, kho tiếp nhận tại sân bay, phương tiện vận tải, tra nạp,
phòng thử nghiệm… Việc đưa ra các quy định này không gây khó khăn hơn cho các
doanh nghiệp đang kinh doanh trong lĩnh vực nhiên liệu hàng không. Hiện các
doanh nghiệp đã và đang phải đáp ứng các quy định này mới có thể cung cấp nhiên
liệu hàng không cho các khách hàng là hãng hàng không trong và ngoài nước. Các
quy định này không gây khó khăn doanh nghiệp, chỉ hướng dẫn cụ thể hơn cho các
doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh nhiên liệu hàng không để có thể đáp ứng các
yêu cầu thiết yếu của các khách hàng, đồng thời tạo điều kiện cho cơ quan quản
lý nhà nước trong việc hướng dẫn doanh nghiệp đáp ứng điều kiện kinh doanh nhiên
liệu hàng không một cách rõ ràng hơn.
- Về cơ chế điều hành giá xăng dầu
Sửa đổi quy định về mức biến động giá cơ sở giữa 02
kỳ điều hành giá liên tiếp cần xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ: nhằm tăng
tính chủ động cho cơ quan điều hành giá và bảo đảm tính kịp thời cho thời gian
điều hành giá sau khi có đủ các dữ liệu tính giá cho từng kỳ điều, trên cơ sở
công thức tính giá cơ sở và cơ chế sử dụng Quỹ BOG đã được quy định cụ thể tại
Nghị định, cơ quan chủ trì điều hành giá sẽ quyết định mức điều chỉnh giá trong
phạm vi biến động 10% so với giá cơ sở kỳ trước (thay cho quy định trước đó là
cơ quan chủ trì quyết định mức điều chỉnh giá trong phạm vi biến động 7%). Theo
đó, Nghị định đã sửa đổi nội dung này như sau:
“Trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho
giá cơ sở tăng trên mười phần trăm (> 10%) so với giá cơ sở liền kề trước đó, Bộ
Công Thương có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định về
biện pháp điều hành cụ thể.”.
- Về công thức tính giá cơ sở mặt hàng xăng dầu
Căn cứ tình hình thực tế hoạt động sản xuất, kinh
doanh của nền kinh tế Việt Nam cho thấy xăng dầu vẫn là mặt hàng thiết yếu, có
tính đặc thù nên giá bán lẻ trong nước sẽ được điều tiết thông qua giá cơ sở để
hạn chế tối đa những phát sinh tiêu cực ảnh hưởng đến người dâu, doanh nghiệp và
công tác điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Xuất phát từ thực tế cơ cấu nguồn
cung xăng dầu trong nước (nguồn trong nước đã chiếm 70-75%, còn lại là nhập
khẩu) và phương thức tính giá hiện hành của các nhà máy lọc dầu trong nước bán
cho các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, tại dự thảo Nghị định đã sửa
đổi, bổ sung công thức tính giá cơ sở được kết cấu từ 2 nguồn (nhập khẩu và
trong nước) theo tỷ trọng tiêu thụ thực tế, cụ thể như sau:
+ Sửa công thức tính giá cơ sở đối với các mặt hàng
xăng dầu (không bao gồm xăng sinh học)
Giá cơ sở xăng dầu được xác định bằng (=) Giá xăng
dầu từ nguồn nhập khẩu nhân với (x) tỷ trọng (%) sản lượng xăng dầu từ nguồn
nhập khẩu cộng (+) Giá xăng dầu từ nguồn sản xuất trong nước nhân với (x) tỷ
trọng (%) sản lượng xăng dầu từ nguồn trong nước. Tỷ trọng (%) sản lượng xăng
dầu từ nguồn trong nước và nhập khẩu để tính giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu
được xác định hàng Quý; Tỷ trọng sản lượng của Quý trước liền kề được áp dụng để
tính giá cơ sở cho các kỳ điều hành giá cơ sở của Quý tiếp theo.
+ Bổ sung công thức tính giá cơ sở đối với xăng sinh
học
Công thức tính giá cơ sở xăng sinh học hiện đang
được quy định chi tiết tại Thông tư liên tịch số 90/2016/TTLT-BTC-BCT. Tuy
nhiên, để bảo đảm nguyên tắc quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật (không còn hình thức thông tư liên tịch giữa các Bộ) nên vấn đề này đã được
đưa vào Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung. Qua đó một mặt nâng cao tính pháp
lý, tạo thuận lợi cho việc triển khai thực hiện, một mặt tăng cường tính công
khai, minh bạch của chính sách.
Trên cơ sở đó, tương tự như giá cơ sở các mặt hàng
xăng dầu khác, công thức giá cơ sở xăng sinh học cơ bản kế thừa quy định tại
Thông tư liên tịch số 90/2016/TTLT-BTC-BCT và được tính bình quân 02 mức giá dựa
trên các yếu tố chi phí hình thành từ hai nguồn (trong nước và nhập khẩu); cụ
thể:
Giá cơ sở xăng sinh học được xác định bằng (=) tỷ lệ
phần trăm thể tích xăng không chì (%) nhân (x) {(giá xăng thế giới cộng (+) chi
phí đưa xăng từ nước ngoài về cảng Việt Nam cộng (+) chi phí về thuế nhập khẩu
xăng) nhân (x) tỷ trọng sản lượng xăng nhập khẩu cộng (+) (giá xăng thế giới
cộng (+) premium cộng (+) chi phí đưa xăng từ nhà máy lọc dầu trong nước đến
cảng (nếu có)) nhân (x) tỷ trọng sản lượng xăng từ nguồn sản xuất trong nước)}
cộng (+) tỷ lệ phần trăm thể tích Etanol nhiên liệu (%) nhân (x) giá Etanol
nhiên liệu cộng (+) chi phí kinh doanh định mức cộng (+) mức trích lập Quỹ bình
ổn giá cộng (+) lợi nhuận định mức cộng (+) các khoản chi phí về thuế, phí và
các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Về Quỹ Bình ổn giá xăng dầu
Để tăng cường hơn nữa tính công khai, minh bạch và
trách nhiệm của Thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu trong việc thực hiện
trích lập, sử dụng và quản lý số dư Quỹ BOG xăng dầu, Nghị định sửa đổi, bổ sung
đã quy định rõ hơn, chặt chẽ hơn cơ chế báo cáo, theo dõi (số dư tài khoản Quỹ
BOG tại ngân hàng), trách nhiệm công bố công khai số dư Quỹ BOG. Đồng thời, rà
soát sửa đổi quy định về cách tính lãi suất tiền gửi đối với số tiền Quỹ để tại
các ngân hàng thương mại theo đó sẽ được tính theo mức lãi suất tiền gửi không
thấp hơn lãi suất không kỳ hạn áp dụng cho tài khoản tiền gửi của ngân hàng
thương mại và hạch toán tăng vào tài khoản Quỹ; quy định về nguồn tài chính
trong trường hợp thương nhân xăng dầu đầu mối thực hiện sử dụng Quỹ BOG trong
khi Quỹ BOG tại doanh nghiệp đang bị âm, theo đó quy định cách tính lãi suất vay
khi Quỹ âm theo mức lãi suất thỏa thuận thấp nhất giữa ngân hàng và doanh nghiệp
kinh doanh xăng dầu cho phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng.
- Quy định về chu kỳ điều chỉnh giá
Thời gian vừa qua, có những lúc giá xăng dầu trên
thị trường thế giới có biến động liên tục với biên độ lớn, trong khi đó giá
trong nước không được điều chỉnh kịp thời (theo quy định tại Nghị định số
83/2014/NĐ-CP, điều hành tăng giá tối thiểu phải 15 ngày) dẫn đến việc mất cân
đối cung cầu do doanh nghiệp càng bán hàng càng lỗ lớn khi giá trong nước quá
chênh lệch với giá thế giới nên có ý kiến cho rằng cần rút ngắn chu kỳ điều hành
giá xăng dầu cho phù hợp với biến động giá thế giới. Do đó, Nghị định đã sửa đổi
quy định về chu kỳ điều chỉnh giá xăng dầu theo hướng rút ngắn chu kỳ điều hành
giá xăng dầu từ 15 ngày xuống còn 10 ngày để sát với diễn biến của giá thành
phẩm xăng dầu thế giới, đồng thời cũng bổ sung quy định trong trường hợp giá
xăng dầu có biến động lớn, bất thường, ảnh hưởng đến kinh tế xã hội, Bộ Công
Thương báo cáo Thủ tướng xem xét, quyết định thời gian điều hành giá cụ thể cho
kỳ điều hành đó. Kỳ điều hành giá sẽ được xác định cụ thể vào 03 thời điểm trong
tháng là ngày 01, ngày 11 và ngày 21 hàng tháng để phù hợp với chu kỳ lấy giá
trong tính chỉ số giá tiêu dùng CPI hàng tháng hiện nay, đồng thời thuận lợi hơn
trong việc tổng hợp các dữ liệu tính giá từ báo cáo của các doanh nghiệp hàng
Quý, hàng tháng.
- Quy định về dự trữ xăng dầu
+ Về thời gian dự trữ xăng dầu: Sửa đổi quy định về
dự trữ xăng dầu theo hướng giảm số ngày dự trữ bắt buộc của thương nhân đầu mối
kinh doanh xăng dầu từ 30 ngày xuống 20 ngày, bổ sung trách nhiệm dự trữ đối với
thương nhân phân phối thêm 05 ngày và của thương nhân sản xuất xăng dầu theo quy
định để bảo đảm sự công bằng và chia sẻ trách nhiệm giữa các doanh nghiệp tham
gia cung ứng xăng dầu tại thị trường trong nước.
+ Về cơ chế sử dụng xăng dầu dự trữ: Do trong Nghị
định số 83/2014/NĐ-CP có quy định về việc dự trữ xăng dầu bắt buộc nhưng chưa có
quy định về cơ chế sử dụng lượng xăng dầu dự trữ bắt buộc này nên Nghị định sửa
đổi đã đưa thêm nội dung về cơ chế sử dụng lượng xăng dầu dự trữ bắt buộc theo
hướng ngoài việc tuân thủ quy định về dự trữ quốc gia cần thực hiện theo chỉ đạo
của Bộ Công Thương để thực hiện mục tiêu bình ổn thị trường khi cần thiết.
- Sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác
+ Sửa đổi, bổ sung nội dung giải thích từ ngữ để
thống nhất cách hiểu trong khuôn khổ Nghị định (quy định tại Điều 3 Nghị định số
83/2014/NĐ-CP) như khái niệm về xăng dầu; sản xuất xăng dầu; giá thế giới; giá
cơ sở; thương nhân đầu mối; nhiên liệu sinh học; Quỹ bình ổn giá xăng dầu...
+ Bỏ quy định về áp dụng công cụ nghiệp vụ phái sinh
(quy định tại Khoản 6 Điều 9) do đây là nội dung chuyên ngành đã được điều chỉnh
tại Nghị định số 51/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày
28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ uy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động
mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch hàng hóa.
+ Bổ sung trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận
nội dung có bản sao Hợp đồng mua bán xăng dầu giữa các doanh nghiệp cho phù hợp
với các quy định trong mẫu Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đã quy định tại Nghị
định số 83/2014/NĐ-CP.
+ Bổ sung quyền nhập khẩu xăng dầu thành phẩm cho
các thương nhân sản xuất xăng dầu để bảo đảm thực hiện các hợp đồng đã ký với
thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu trong trường hợp sản xuất xăng dầu của
các Nhà máy bị gián đoạn. Trong trường hợp này, thương nhân sản xuất xăng dầu sẽ
được nhập khẩu xăng dầu trên cơ sở có ý kiến của Bộ Công Thương sau khi thực
hiện việc cân đối tổng nguồn xăng dầu tối thiểu tại từng giai đoạn cụ thể; bổ
sung quyền nhập khẩu, xuất khẩu, phân phối (như quyền của các Nhà máy lọc dầu)
của đơn vị thực hiện bao tiêu sản phẩm xăng dầu của Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn để
phù hợp với trách nhiệm của đơn vị này trong việc thực hiện cam kết của Chính
phủ khi thực hiện dự án xây dựng Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn.
+ Bổ sung quyền mua bán xăng dầu của thương nhân
phân phối xăng dầu với thương nhân phân phối khác và quyền bán xăng dầu cho các
đơn vị trực tiếp sử dụng xăng dầu sản xuất cho phù hợp với thực tế doanh nghiệp
đang kinh doanh.
+ Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, để chủ động nguồn
hàng cho lực lượng quân đội, phát huy năng lực trong nước thay thế và tránh lệ
thuộc hàng nhập khẩu, cấp phát trực tiếp đến các đơn vị chiến đấu nhằm bảo đảm
bí mật quân sự, Nghị định đã sửa đổi nội dung quyền bán xăng dầu của thương nhân
sản xuất xăng dầu theo hướng được phép bán xăng dầu trực tiếp cho các đơn vị
chức năng để phục vụ mục tiêu an ninh, quốc phòng theo danh sách đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt.
Ban hành kèm theo Nghị định này Phụ lục các Biểu
mẫu: (1) Mẫu số 1 - Đơn đề nghị cấp/cấp bổ sung, sửa đổi/cấp lại Giấy xác nhận
đủ điều kiện làm thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu; (2) Mẫu số 2 - Giấy
xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu; (3) Mẫu số 3
- Đơn đề nghị cấp/cấp bổ sung, sửa đổi/cấp lại Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều
kiện bán lẻ xăng dầu; (4) Mẫu số 3a - Đơn đề nghị cấp/cấp lại do thay đổi thông
tin Giấy tiếp nhận thông báo kinh doanh xăng dầu bằng thiết bị bán xăng dầu quy
mô nhỏ; (5) Mẫu số 4a - Giấy tiếp nhận thông báo kinh doanh xăng dầu bằng thiết
bị bán xăng dầu quy mô nhỏ.
2. Nghị định số 96/2021/NĐ-CP ngày 02 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ về công tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang
a) Hiệu lực thi hành: Nghị
định có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2021, thay thế Nghị định số 03/2009/NĐ-CP ngày
09/01/2009 của Chính phủ quy định về công tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành: Nghị
định số 03/2009/NĐ-CP ngày 09/01/2009 của Chính phủ quy định về công tác bảo đảm
chuyến bay chuyên cơ trải qua hơn 10 năm thi thành bên cạnh những kết quả đạt
được đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần được sửa đổi, cụ thể như sau:
- Nghị định số 03/2009/NĐ-CP
được ban hành trong bối cảnh các doanh nghiệp trong lĩnh vực hàng không dân dụng
vẫn do Nhà nước là chủ sở hữu (nắm giữ 100% vốn điều lệ) do vậy, nội dung Nghị
định được xây dựng trên quan điểm các doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ chuyên cơ
là nghĩa vụ với chủ sở hữu. Đến thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp ngành hàng
không đã có hình thức sở hữu đa dạng (hầu hết là công ty cổ phần) nên cần có các
quy định phù hợp hơn theo hướng các hãng hàng không nhận đặt hàng cung ứng dịch
vụ chuyên cơ từ các cơ quan có thẩm quyền.
- Việc sử dụng cụm từ “chuyên
khoang hoặc chuyên cơ” theo
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 của Luật Cảnh vệ số 13/2017/QH17 ngày
20/6/2017 có sự khác biệt với khái niệm trong Luật Hàng không dân dụng về
chuyến bay
chuyên cơ; cần phải có quy định cụ thể đối tượng được sử dụng “chuyên
cơ”,“chuyên khoang” trong các biện pháp, chế độ cảnh vệ. Do vậy các quy định
chuyên ngành hàng không cũng cần được điều chỉnh phù hợp theo pháp luật về công
tác bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng được cảnh vệ bằng cách xác định
rõ khái niệm của “chuyên cơ” và “chuyên khoang”.
- Theo thống kê, số lượng chuyến
bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam và nước ngoài hoạt động ngày càng
tăng, một số vấn đề phát sinh trong quá trình phục vụ chuyến bay chuyên cơ,
chuyên khoang cần được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn để đảm bảo an ninh, an
toàn và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong quá
trình triển khai thực hiện, bao gồm:Khó
khăn trong việc tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn, quy trình chuyên cơ trong
trường hợp thông báo chuyến bay chuyên cơ muộn hơn thời gian quy định hoặc thay
đổi kế hoạch vào giờ chót; đặc biệt là việc áp dụng tiêu chuẩn, quy trình áp
dụng trong trường hợp đối tượng được phục vụ chuyên cơ (nước ngoài) đi chuyến
bay thương mại của hãng hàng không nước ngoài hoặc Việt Nam;
- Chưa có quy định cụ thể về đối
tượng chuyên chở trên các chuyến bay chuyên cơ của nước ngoài bay đến, đi Việt
Nam được áp dụng tiêu chuẩn, quy trình bảo đảm chuyên cơ;
+ Chưa quy định trách nhiệm phục
vụ chuyến bay chuyên cơ nước ngoài đối với doanh nghiệp cảng hàng không, doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay; một số quy định về trách nhiệm
của cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng, chưa thống nhất;
+ Chưa có quy định cụ thể của pháp luật về đặt hàng,
giao kế hoạch, thanh toán
chi phí chuyên cơ đối với các chuyến bay chuyên cơ theo thông báo của Văn phòng
Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính
phủ và các chuyến bay chuyên cơ do Bộ Quốc phòng thực hiện;
+ Quy định chưa cụ thể về nguyên
tắc bảo vệ bí mật nhà nước trong việc triển khai thông báo chuyến bay chuyên cơ
dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện công tác triển khai phục vụ, đặc biệt
khó khăn trong các trường hợp: triển khai cho Chi nhánh hãng hàng không Việt Nam
ở nước ngoài, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài gửi hồ sơ xin phép bay,
triển khai chuyến bay chuyên cơ thông báo muộn hơn thời gian quy định và triển
khai thay đổi kế hoạch bay vào giờ chót theo hệ thống thông tin hàng không hiện
nay.
Do vậy, để phù hợp với thực tiễn
công tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang đồng thời khắc phục các
vướng mắc còn tồn tại nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác bảo đảm chuyến
bay chuyên cơ, chuyên khoang, việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số
03/2009/NĐ-CP của Chính phủ là cần thiết.
c) Nội dung chủ yếu: Nghị
định bao gồm 5 Chương với 20 Điều, cụ thể như sau:
- Chương
I. Quy định chung: gồm 3 Điều (từ Điều 1 đến Điều 3). Nội dung của Chương này
quy định về đối tượng điều chỉnh, phạm vi áp dụng, giải thích từ ngữ
và nguyên tắc thực hiện chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang.
- Chương II. Bảo đảm chuyến bay
chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam: gồm 4 Điều (từ Điều 4 đến Điều 7). Nội
dung của Chương này quy định về đối tượng được phục vụ chuyến bay chuyên cơ,
chuyên khoang của Việt Nam thống nhất với Luật Cảnh vệ năm 2017; cơ quan có thẩm
quyền thông báo chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam; Doanh nghiệp
nhận đặt hàng, đơn vị được giao thực hiện chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang
của Việt Nam; nội dung và thời hạn Thông báo chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang
của Việt Nam.
- Chương III. Bảo đảm chuyến bay
chuyên cơ của nước ngoài: gồm 4 Điều (từ Điều 8 đến Điều 11). Nội dung của
Chương này quy định việc áp dụng tiêu chuẩn, quy trình bảo đảm đối với chuyến
bay chuyên cơ của nước ngoài bay đến, đi Việt Nam (cụ thể hóa đối tượng áp dụng
theo tiêu chuẩn chuyên cơ đồng bộ nghi thức đón tiễn quy định tại Nghị định số
145/2013/NĐ-CP); cơ quan Việt Nam có thẩm quyền thông báo chuyến bay chuyên cơ
của nước ngoài; nội dung và thời hạn thông báo chuyến bay chuyên cơ của nước
ngoài.
- Chương IV. Trách nhiệm của cơ
quan, đơn vị có liên quan: gồm 7 Điều (từ Điều 12 đến Điều 18). Nội dung của
Chương này quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ bảo
đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang.
- Chương V. Điều khoản thi hành:
gồm 2 Điều (từ Điều 19 đến Điều 20). Các nội dung cụ thể:
- Phạm vi điều chỉnh:
Nghị định này quy định về công
tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam và chuyến bay
chuyên cơ của nước ngoài bay trong vùng trời Việt Nam và vùng thông báo bay do
Việt Nam quản lý.
- Đối
tượng áp dụng: Dự
thảo Nghị định quy định đối tượng áp dụng bao gồm: các tổ chức, cá nhân liên
quan đến việc bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam và chuyến
bay chuyên cơ của nước ngoài bay trong vùng trời Việt Nam và vùng thông báo bay
do Việt Nam quản lý.
- Nội
dung cơ bản của Nghị định:
+ Cụ thể hóa khái niệm “chuyên
cơ”, “chuyên khoang” theo Luật Cảnh vệ năm 2017 để Bộ GTVT làm căn cứ
ban hành các tiêu chuẩn, quy trình, yêu cầu lựa chọn tàu bay, trang thiết bị,
nhân viên hàng không phù hợp với pháp luật về cảnh vệ tăng cường bảo đảm an
toàn, an ninh cho đối tượng cảnh vệ phù hợp với từng hình thức chuyến bay được
cơ quan có thẩm quyền lựa chọn.
+ Xác
định đối tượng được phục vụ chuyến bay chuyên cơ của nước ngoài để
từ đó quy định các tiêu chuẩn, quy trình phục vụ phù hợp với hình thức chuyến
bay một cách thống nhất, thuận lợi, trọng thị theo đúng nghi lễ thống nhất với
Luật Cảnh vệ 2017, Nghị định số 145/2013/NĐ-CP.
+ Quy
định cụ thể hơn cơ chế trách nhiệm triển khai nhiệm vụ phục vụ chuyến
bay chuyên cơ, chuyên khoang từ Cục Hàng không Việt Nam đối với hãng hàng không
và các đơn vị cung cấp dịch vụ khác tham gia nhiệm vụ bảo đảm chuyên cơ, chuyên
khoang.
+ Xác định nguyên tắc bảo đảm bí
mật trong triển khai công tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang, cụ
thể là bảo đảm bí mật Kế hoạch bảo đảm an ninh cho đối tượng chuyên cơ, chuyên
khoang theo quy định của pháp luật.
+ Điều chỉnh, bổ sung quy định
liên quan đến công tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ thống nhất với các quy định
quản lý giá theo pháp luật về giá và quản lý dịch vụ công ích trong việc đặt
hàng thực hiện chuyến bay chuyên cơ và thanh toán chi phí chuyên cơ.
3. Nghị định số 97/2021/NĐ-CP ngày 08 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
23/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy,
nổ bắt buộc
a) Hiệu lực thi hành: Nghị
định này có hiệu lực từ ngày 23 tháng 12 năm 2021.
Các hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đã giao kết
trước ngày Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo quy định pháp
luật tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp sửa đổi, bổ sung hợp
đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc có nội dung sửa đổi, bổ sung được quy định tại
Nghị định này thì thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành: Ngày
23/02/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2018/NĐ-CP quy định về bảo hiểm
cháy, nổ bắt buộc (BHCNBB), theo đó mức phí bảo hiểm được áp dụng tương ứng theo
từng danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ quy định tại Phụ lục II ban hành
kèm theo Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và văn bản sửa đổi, bổ sung,
thay thế (nếu có).
Ngày 24/11/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số
136/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng
cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và
chữa cháy, hiệu lực thi hành từ ngày 10/01/2021, thay thế Nghị định số
79/2014/NĐ-CP. Danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ được sửa đổi và quy định
tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 136/2020/NĐ-CP. Do đó, cần thiết
phải sửa đổi, bổ sung Nghị định số 23/2018/NĐ-CP về mức phí bảo hiểm đối với cơ
sở có nguy hiểm về cháy, nổ để phù hợp với Nghị định số 136/2020/NĐ-CP.
Ngoài ra, Nghị định số 23/2018/NĐ-CP không quy định
doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phải cấp Giấy chứng nhận BHCNBB nên cơ quan Công an
có thẩm quyền gặp khó khăn trong việc kiểm tra việc thực hiện mua BHCNBB của cơ
sở có nguy hiểm về cháy, nổ nên cần thiết bổ sung quy định này.
Trong tình hình các vụ cháy lớn thường xuyên xảy ra,
để tăng cường hỗ trợ trang bị phương tiện, thiết bị phòng cháy, chữa cháy cho
lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Bộ Công an đề nghị tăng mức chi cho
hỗ trợ trang bị phương tiện, thiết bị phòng cháy và chữa cháy, giảm mức chi cho
tuyên truyền, hỗ trợ điều tra nguyên nhân vụ cháy, khen thưởng...
Theo quy định, DNBH nộp trực tiếp kinh phí đóng góp
cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy (PCCC) từ BHCNBB vào Tài khoản của Cục Cảnh
sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ do Bộ Công an mở tại Kho bạc Nhà
nước Trung ương, gửi báo cáo tình hình thu nộp kinh phí tới Bộ Tài chính. Để
việc rà soát số liệu thống nhất và thuận tiện, cần thiết sửa đổi quy định về
việc DNBH gửi báo cáo nộp kinh phí cho Bộ Tài chính theo quy định tại Nghị định
số 23/2018/NĐ-CP thành DNBH gửi báo cáo nộp kinh phí cho Bộ Công an (Cục Cảnh
sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ).
c) Nội dung chủ yếu:
- Sửa đổi, bổ sung mức phí BHCNBB để phù hợp với
danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ quy định tại Phụ lục II ban hành kèm
theo Nghị định số 136/2020/NĐ-CP
+ Đối với danh mục cơ sở đã được quy định mức phí
tại Nghị định số 23/2018/NĐ-CP và danh mục cơ sở có rủi ro tương đồng: Mức phí
BHCNBB quy định tương tự tại Nghị định số 23/2018/NĐ-CP.
+ Đối với danh mục cơ sở mới: Mức phí BHCNBB trên cơ
sở đề xuất của DNBH, doanh nghiệp tái bảo hiểm, thông lệ thị trường bảo hiểm và
lịch sử tổn thất một số nhóm cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ đặc thù của Việt
Nam.
+ Đối với danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ
theo phân hạng A, B, C, D, E (nhóm 16): Quy định hiện hành chưa chi tiết cơ sở
có nguy hiểm về cháy, nổ theo phân hạng A, B, C, D, E gây khó khăn cho DNBH và
cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ áp dụng mức phí bảo hiểm theo quy định. Vì vậy,
theo đề nghị của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, DNBH, ý kiến của Bộ Công an, Nghị
định quy định theo hướng liệt kê chi tiết cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ theo
phân hạng A, B, C, D, E để dễ theo dõi, thực hiện.
Ngoài ra, để thống nhất việc áp dụng mức phí bảo
hiểm đối với các cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ, Nghị định sửa đổi quy định về
mức phí bảo hiểm đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ có tổng số tiền bảo hiểm
của các tài sản tại một địa điểm từ 1.000 tỷ đồng trở lên (trừ cơ sở hạt nhân)
theo hướng: DNBH và bên mua bảo hiểm thỏa thuận mức phí bảo hiểm trên cơ sở được
doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm chấp thuận. Trong mọi trường hợp, mức phí bảo
hiểm không được thấp hơn mức phí bảo hiểm tương ứng với 1.000 tỷ đồng nhân (x)
tỷ lệ phí bảo hiểm quy định tại Nghị định.
-Sửa đổi, bổ sung
một số nội dung để phù hợp với tình hình thực tiễn triển khai.
+ Sửa đổi quy định về đối tượng áp dụng theo hướng
không quy định viện dẫn số hiệu văn bản cụ thể để đảm bảo được tính dự báo,
thống nhất với hệ thống pháp luật, hạn chế việc phải sửa đổi, bổ sung hoặc thay
thế.
+ Bổ sung quy định về Giấy chứng nhận BHCNBB: DNBH
phải cấp Giấy chứng nhận BHCNBB. Giấy chứng nhận BHCNBB do DNBH chủ động thiết
kế và phải bao gồm một số nội dung trên cơ sở kế thừa quy định tại Phụ lục I ban
hành kèm theo Nghị định số 23/2018/NĐ-CP (Tên DNBH, tên và địa chỉ người được
bảo hiểm, tên và địa chỉ bên mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm…); bổ
sung nội dung thông tin về đường dây nóng của DNBH trên Giấy chứng nhận BHCNBB
để bên mua bảo hiểm có thể liên hệ khi cần thiết; bổ sung quy định về cấp Giấy
chứng nhận BHCNBB điện tử để đáp ứng xu thế của cuộc cách mạng công nghệ 4.0,
tạo điều kiện thuận lợi cho DNBH và bên mua bảo hiểm thực hiện.
+ Sửa đổi tỷ lệ chi từ nguồn thu từ bảo hiểm cháy,
nổ bắt buộc cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy để tăng cường đầu tư trang thiết
bị, phương tiện cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy, theo đó: Tăng tỷ lệ chi
cho hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện phòng cháy, chữa cháy từ 40% lên 65%;
giảm tỷ lệ chi cho tuyên truyền, hỗ trợ điều tra nguyên nhân vụ cháy, kiểm tra
an toàn về phòng cháy và chữa cháy, khen thưởng công tác phòng cháy và chữa cháy
từ 60% xuống 35%.
+ Bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức và cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ và trách nhiệm của Bộ Công an
trong việc ghi hạng nguy hiểm cháy nổ A, B, C, D, E của cơ sở sản xuất công
nghiệp tại Biên bản nghiệm thu hoặc Biên bản kiểm tra an toàn về phòng cháy và
chữa cháy đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ để tạo thuận lợi cho DNBH và
bên mua bảo hiểm thỏa thuận phí bảo hiểm theo quy định.
+ Sửa đổi quy định về chế độ báo cáo của DNBH để đảm
bảo phù hợp với quy định tại Nghị định số 09/2019/NĐ-CP ngày 24/01/2019 của
Chính phủ quy định chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước và đảm bảo
thông tin kịp thời về nguồn kinh phí đóng góp cho hoạt động PCCC từ BHCNBB cho
Bộ Công an.
Ban hành kèm theo Nghị định này 03 Phụ lục: (1) Mức
phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; (2) Báo cáo doanh thu,
bồi thường bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; (3) Báo cáo tình hình thu, nộp từ bảo
hiểm cháy, nổ bắt buộc.
4. Nghị định số 98/2021/NĐ-CP ngày 08 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế
a) Hiệu lực thi hành:Nghị
định số 98/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Các Nghị định, quy định hết hiệu lực kể từ ngày Nghị
định số 98/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành:
- Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm
2016 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế;
- Nghị định số 169/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm
2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 36/2016/NĐ-CP
ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế;
- Nghị định số 03/2020/NĐ-CP ngày 01 tháng 01 năm
2020 của Chính phủsửa đổi, bổ sung Điều 68 Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15
tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế đã được sửa đổi,
bổ sung tại Nghị định số 169/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm
2016 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế.
- Quy định tại Điều 7 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP
ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật quảng cáo kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành:
Một là, xuất phát từ các khó khăn, vướng mắc trong
quá trình tổ chứcthực hiện, cụ thể như sau:
- Về cấp số lưu hành:
+ Chưa có quy định về việc cấp nhanh, cấp khẩn cấp
số lưu hành trong tình trạng cấp bách phục vụ phòng, chống dịch bệnh nên trong
thời gian qua Bộ Y tế gặp nhiều khó khăn trong việc cấp phép để đáp ứng yêu cầu
của công tác phòng, chống dịch;
+ Thực tiễn quản lý cho thấy trang thiết bị y tế đã
được cấp số lưu hành bởi các nước hoặc tổ chức có uy tín như FDA của Mỹ, TGA của
Úc, Bộ Y tế và phúc lợi của Nhật Bản, Health Canada của Canada, cơ quan quản lý
trang thiết bị y tế của các nước thành viên EU thì đều bảo đảm chất lượng. Tuy
nhiên, pháp luật hiện hành về quản lý trang thiết bị y tế chưa có cơ chế cho
phép thừa nhận số lưu hành do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã cấp tương
tự như quy định của Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm.
- Về nghiên cứu lâm sàng trang thiết bị y
tế: Theo quy định hiện hành, trang thiết bị y tế xâm
nhập thuộc loại C, D phải có tài liệu về kết quả nghiên cứu giá lâm sàng và thực
tế quản lý trang thiết bị y tế giai đoạn vừa qua cho thấy các quy định về nghiên
cứu lâm sàng trang thiết bị y tế do Bộ Y tế ban hành đã không còn phù hợp thực
tiễn nên dẫn đến tình trạng các cơ sở sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn
trong quá trình thực hiện. Tuy nhiên, Bộ Y tế không thể ban hành văn bản sửa đổi
do các quy định về nghiên cứu lâm sàng đối với trang thiết bị y tế có liên quan
đến điều kiện của cơ sở nhận nghiên cứu lâm sàng đối với trang thiết bị y tế,
quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có trang thiết bị y tế phải nghiên cứu
lâm sàng, quyền và nghĩa vụ của cơ sở nhận nghiên cứu lâm sàng đối với trang
thiết bị y tế mà theo quy định của pháp luật về đầu tư và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật thì các nội dung liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh phải
quy định ở văn bản cấp Nghị định trở lên và thủ tục hành chính phải quy định ở
văn bản cấp Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trở lên.
- Về quản lý giá trang thiết bị y tế: Thực
tế quản lý trang thiết bị y tế giai đoạn vừa qua cho thấy do pháp luật hiện hành
quy định trang thiết bị y tế không thuộc mặt hàng quản lý giá nên xuất hiện tình
trạng mua bán lòng vòng để nâng giá trang thiết bị y tế, cùng một loại trang
thiết bị y tế nhưng có nhiều mức giá khác nhau dẫn đến khó khăn trong mua sắm,
đấu thầu.
Hai là, thực hiện nhiệm vụ tiếp tục cắt giảm các
điều kiện đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm
2021 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải
thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2021 và
Nghịquyết số 68/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương
trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinhdoanh giai
đoạn 2020-2025, cụ thể như sau:
- Bãi bỏ điều kiện đối với người thực hiện phân
loại, tổ chức phân loại và cắt bỏ thủ tục hành chính công bố đủ điều kiện phân
loại trang thiết bị y tế. Việcphân loại trang thiết bị y tế sẽ do Chủ sở hữu số
lưu hành trang thiết bị y tế thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả phân loại;
- Bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu
hành đối với trang thiết bị y tế loại B và chuyển sang hình thức tiếp nhận hồ sơ
công bố tiêu chuẩn tại các Sở Y tế, theo đó doanh nghiệp sẽ thực hiện thủ tục
công bố hồ sơ và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ
cũng như chất lượng trang thiết bị y tế;
- Bãi bỏ hóa thủ tục cấp mới, cấp lại, điều chỉnh
xác nhận nội dung quảng cáo trang thiết bị y tế và thay bằng hình thức quản lý:
doanh nghiệp đăng ký khai báo trực tuyến công khai nội dung quảng cáo trên hệ
thống, đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp và tăng hình thức xử phạt vi
phạm, thu hồi số lưu hành nếu có sai phạm;
- Đơn giản hóa thành phần hồ sơ cấp nhanh đăng ký
lưu hành theo hình thức thừa nhận đối với các trang thiết bị y tế đã được nước
tham chiếu cấp lưu hành hoặc đã được nhập khẩu, lưu hành và sử dụng tại Việt
Nam;
- Đơn giản hóa việc thực hiện các thủ tục công bố:
Đủ điều kiện sản xuất, mua bán, tư vấn theo hướng bỏ thủ tục cấp phiếu tiếp nhận
của cơ quan quản lý, trong đó doanh nghiệp sẽ đăng ký khai báo trực tuyến trên
hệ thống và sau khi khai báo thành công các doanh nghiệp có thể thực hiện luôn
mà không cần phải có Phiếu tiếp nhận của cơ quan quản lý.
c) Nội dung chủ yếu: Nghị
định số 98/2021/NĐ-CP có 13 chương, 77 điều, cụ thể:
- Nghị định số 98/2021/NĐ-CP quy định việc quản lý
trang thiết bị y tế bao gồm: phân loại trang thiết bị y tế; sản xuất, nghiên cứu
lâm sàng, lưu hành, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, cung cấp dịch vụ trang thiết
bị y tế; thông tin, quảng cáo trang thiết bị y tế; quản lý giá trang thiết bị y
tế và quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế tại các cơ sở y tế.
- Nghị định số 98/2021/NĐ-CP không áp dụng đối với:
+ Nguyên vật liệu, bán thành phẩm để sản xuất trang
thiết bị y tế, trừ nguyên liệu có chứa chất ma túy và tiền chất;Nguyên liệu sản
xuất trang thiết bị y tế là mẫu máu, huyết thanh, huyết tương, nước tiểu, phân,
dịch tiết cơ thể người, các mẫu khác từ người khi nhập khẩu, xuất khẩu phải bảo
đảm an toàn sinh học theo quy định của pháp luật; Khí y tế;Phụ kiện sử dụng cùng
trang thiết bị y tế;Các sản phẩm dùng trong y tế với mục đích nghiên cứu
(Research Use Only - RUO), các sản phẩm dùng trong phòng thí nghiệm (Laboratory
Use Only- LUO).
- Các nội dung chủ yếuNghị định số 98/2021/NĐ-CP
thay đổi căn bản hoạt động cấp phép lưu hành theo hướng chuyển cơ chế quản lý từ
tiền kiểm sang hậu kiểm, cụ thể như sau:
+ Đối với trang thiết bị y tế thuộc loại B: Chuyển
từ xem xét, cấp phép lưu hành sang doanh nghiệp tự công bố tiêu chuẩn áp dụng;
+ Đối với trang thiết bị y tế thuộc loại C, D: Áp
dụng cơ chế thừa nhận kết quả cấp số lưu hành của các các nước có quy trình quản
lý chất lượng và cấp phép lưu hành chặt chẽ như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Úc…. Theo
đó, nếu trang thiết bị y tế đã được các nước nêu trên cấp phép lưu hành thì Bộ Y
tế sẽ thừa nhận kết quả cấp này để cấp lưu hành tại Việt Nam mà không cần xem
xét hồ sơ kỹ thuật. Thời gian cấp giảm xuống còn là 10 ngày làm việc so 60 ngày
như trước đây.
+ Thay đổi quy trình cấp đăng ký lưu hành theo hướng
minh bạch toàn bộ quá trình cấp phép lưu hành, trong đó đã phân cấp cho các đơn
vị chuyên môn thực hiện việc đánh giá hồ sơ kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và
dựa trên kết quả đánh giá của các đơn vị này, Bộ Y tế sẽ thực hiện việc cấp phép
sau khi rà soát hồ sơ hành chính. Nghị định số 98/2021 /NĐ-CP thực hiện triệt để
cải cách thủ tục hành chính, bao gồm việc bãi bỏ điều kiện và một số thủ tục,
cũng nhưng đơn giản hóa các thủ tục giấy tờ như:
+ Bãi bỏ điều kiện đối với người thực hiện phân
loại, tổ chức phân loại và cắt bỏ thủ tục hành chính công bố đủ điều kiện phân
loại trang thiết bị y tế. Việc phân loại trang thiết bị y tế sẽ do Chủ sở hữu số
lưu hành trang thiết bị y tế thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả phân loại.
+ Bãi bỏ thủ tục cấp mới, cấp lại, điều chỉnh xác
nhận nội dung quảng cáo trang thiết bị y tế và thay bằng hình thức quản lý doanh
nghiệp tự đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử về quản lý trang thiết
bị y tế nội dung, hình thức dự kiến quảng cáo và được thực hiện sau khi đã công
khai.
+ Đơn giản hóa việc thực hiện các thủ tục công bố:
Đủ điều kiện sản xuất, mua bán, tư vấn theo hướng bỏ thủ tục cấp phiếu tiếp nhận
của cơ quan quản lý, trong đó doanh nghiệp sẽ đăng ký khai báo trực tuyến trên
hệ thống và sau khikhai báo thành công các doanh nghiệp được thực hiện luôn mà
không cần phải có Phiếu tiếp nhận của cơ quan quản lý.
+ Sửa đổi hiệu lực của số lưu hành của trang thiết
bị y tế có giá trị không
thời hạn, thay vì 05 năm như trước. Doanh nghiệp không phải thực hiện thủ tụcgia
hạn như trước đây, nhưng có trách nhiệp cập nhật hồ sơ khi có thay đổi trong quá
trình lưu hành trang thiết bị y tế. Đặc biệt, Nghị định 98/2021 bổ sung các biện
pháp quản lý giá trang thiếtbị y tế nhằm mục tiêu giải quyết các tồn tại, bất
cập trong quản lý giá giai đoạn vừa qua như cùng một trang thiết bị y tế nhưng
có nhiều mức giá, giá trúng thầu giữa các cơ sở y tế có sự khác biệt đáng kể,
không có mức giá tham khảo để xây dựng kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
5. Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ
quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán sử dụng vốn đầu tư công
a) Hiệu lực thi hành: Nghị
định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Bãi bỏ các quy định:
- Về thành phần hồ sơ tại các khoản 4, 5, 6, 7, 8,
9, 10 và quy định về mẫu tờ khai tại điểm a khoản 16 Điều 8 Nghị định số
11/2020/NĐ-CP ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ quy định về thủ tục hành
chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước.
- Về thành phần hồ sơ tại các khoản 4, 5, 6 và quy
định về mẫu tờ khai điểm a khoản 12 Điều 9 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20
tháng 01 năm 2020 của Chính phủ.
- Về thành phần hồ sơ của dự án (dự án thành phần)
sử dụng vốn nước ngoài thuộc kế hoạch đầu tư phát triển được ngân sách nhà nước
cấp phát toàn bộ và dự án cấp phát một phần, vay lại một phần theo tỷ lệ
tại khoản 4 và quy định về mẫu tờ khai đối với trường hợp chi đầu tư tại điểm a
khoản 10 Điều 10 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Chính
phủ.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành:
Căn cứ pháp lý: Khoản 4 Điều 81 Luật Đầu tư công
giao Bộ Tài chính chủ trì trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo
thẩm quyền quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư
công.
Trước khi Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11/11/2021
được ban hành, có hiệu lực, việc quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng
vốn đầu tư công được quy định tại các Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tuy
nhiên, việc quy định tại nhiều Thông tư có một số hạn chế, khoảng trống nhất
định về mặt pháp lý như chưa bao quát được phạm vi các dự án sử dụng vốn đầu tư
công (chỉ quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà
nước); chưa có quy định về quản lý, thanh toán vốn từ nguồn thu hợp pháp của các
cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư và quản lý, thanh
toán, quyết toán vốn đầu tư công bố trí cho nhiệm vụ quy hoạch theo quy định của
Luật quy hoạch; chưa có chế tài đủ mạnh quy định về tạm ứng, thanh toán đối với
các công việc thực hiện không thông qua hợp đồng hoặc thực hiện thông qua
hợp đồng của dự án không có cấu phần xây dựng (mới có quy định ở cấp Nghị định
của Chính phủ về tạm ứng, thanh toán hợp đồng xây dựng); bị giới hạn hiệu lực,
thẩm quyền khi chỉ quy định ở cấp Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Như vậy, để đảm bảo cơ sở pháp lý, chế tài đủ mạnh
cho công tác quản lý, thanh toán, quyết toán nhiệm vụ, dự án sử dụng vốn đầu tư
công, đồng thời thống nhất về thẩm quyền ban hành chế độ, chính sách đối với các
hoạt động đầu tư công, việc trình Chính phủ ban hành quy định về quản lý, thanh
toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công là cần thiết.
c) Nội dung chủ yếu: Nghị
định gồm 06 Chương và 56 Điều, trong đó:
- Phạm vi điều chỉnh là quy định chi tiết về quản
lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công cho dự án, công trình, nhiệm vụ quy
hoạch, nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công. Nghị định
này không quy định việc quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công để cấp
bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng
chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; hỗ trợ đầu tư cho các đối
tượng chính sách khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; vốn ngân sách nhà
nước hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo quy định
của Chính phủ.
- Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân
tham gia hoặc có liên quan đến việc quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử
dụng vốn đầu tư công trong phạm vi quy định tại Nghị định này.
Một số nội dung tại Nghị định được dư luận quan tâm:
(1) Về mức tạm ứng: quy định mức tạm ứng không vượt
quá 30% giá trị hợp đồng, thấp hơn quy định tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày
22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng (50% giá trị hợp
đồng) để hạn chế rủi ro cho ngân sách nhà nước, giảm số dư tạm ứng tại Kho bạc
Nhà nước, đồng thời quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích vốn tạm ứng từ
nguồn vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước, gắn việc tạm ứng vốn phải phù
hợp với tiến độ thực hiện hợp đồng, khả năng bố trí vốn hàng năm.
(2) Về quản lý, thanh toán vốn từ nguồn thu hợp pháp
của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư:
- Đối với dự án đầu tư công sử dụng vốn từ nguồn thu
hợp pháp của cơ quan nhà nước, việc kiểm soát, thanh toán vốn thực hiện tại Kho
bạc Nhà nước như vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước.
- Đối với dự án đầu tư công sử dụng vốn từ nguồn thu
hợp pháp của đơn vị sự nghiệp công lập, nhằm tạo chủ động, Nghị định này cho
phép các đơn vị sự nghiệp công lập có thể lựa chọn Kho bạc Nhà nước hoặc ngân
hàng thương mại làm cơ quan kiểm soát, thanh toán (phù hợp với quy định của
Chính phủ về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập).
Ban hành kèm theo Nghị định này Phụ lục các Biểu
mẫu về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công, cụ thể:
(1) Mẫu số 01/PB -
Phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công năm …; (2) Mẫu số 01.nn/PB - Phân bổ chi
tiết kế hoạch đầu tư công năm ...(áp dụng đối với dự án đầu tư công tại nước
ngoài); (3) Mẫu số 02/PB - Phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công năm ... điều
chỉnh; (4) Mẫu số 02.nn/PB - Phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công năm ... điều
chỉnh (áp dụng đối với dự án đầu tư công tại nước ngoài); (5) Mẫu số 03.a/TT -
Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành; (6) Mẫu số 03.b/TT - Bảng
kê xác nhận giá trị khối lượng công việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã
thực hiện; (7) Mẫu số 03.c/TT - Bảng xác định giá trị khối lượng công việc phát
sinh ngoài hợp đồng; (8) Mẫu số 04.a/TT - Giấy đề nghị thanh toán vốn; (9) Mẫu
số 04.a.nn/TT - Giấy đề nghị thanh toán vốn của chủ đầu tư (áp dụng đối với dự
án đầu tư công tại nước ngoài); (10) Mẫu số 04.b/TT - Giấy đề nghị thu hồi vốn;
(11) Mẫu số 04.b.nn/TT - Giấy đề nghị thanh toán vốn của cơ quan chủ quản (áp
dụng đối với dự án đầu tư công tại nước ngoài); (12) Mẫu số 05/TT - Giấy rút
vốn; (13) Mẫu số 06/TT - Giấy rút vốn kiêm thu ngân sách nhà nước (áp dụng trong
trường hợp chi từ tài khoản tạm giữ ngoại tệ); (14) Mẫu số 07/TT - Giấy rút dự
toán ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ; (15) Mẫu số 08/SDTƯ - Báo cáo tổng hợp
tình hình tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng; (16) Mẫu số 09/PPP - Bảng xác định giá
trị khối lượng công việc hoàn thành tiểu dự án trong dự án PPP; (17) Mẫu số
10/PPP - Giấy đề nghị thanh toán phần vốn đầu tư công thực hiện tiểu dự án trong
dự án PPP; (18) Mẫu số 11/QLDA - Bảng phân bổ chi phí quản lý dự án đề nghị
thanh toán hoàn tạm ứng chi phí quản lý dự án; (19) Mẫu số 12/CT - Danh mục các
dự án đầu tư công đề nghị cấp vốn.
6. Nghị định số 100/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
95/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thống kê
a) Hiệu lực thi hành: Nghị
định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành:
- Sự cần thiết: Một trong những căn cứ quan trọng để
xây dựng và ban hành Nghị định số 95/2016/NĐ-CP là Luật Xử lý vi phạm hành chính
đã được sửa đổi, bổ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính được Quốc sung bởi hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2020 nên việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 95/2016/NĐ-CP là cần thiết.
- Mục đích: Hoàn thiện các quy định của Nghị định số
95/2016/NĐ-CP liên quan đến các quy định đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa
đổi , bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính, các quy định pháp luật khác có liên
quan nhằm đảm bảo tính nhất quán các quy định của pháp luật. Đáp ứng yêu cầu
phát triển và công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thống kê.
c) Nội dung chủ yếu: Nghị
định gồm 3 Điều sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2016/NĐ-CP ngày
01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực thống kê, cụ thể:
+ Quy định cụ thể các tổ chức bị xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thống kê quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 của
Nghị định số 95/2016/NĐ - CP. Quy định hộ kinh doanh, hộ gia đình thực hiện hành
vi vi phạm hành chính bị xử phạt như đối với cá nhân vi phạm.
+ Bổ sung quy định về thời hạn thi hành biện pháp
khắc phục hậu quả; thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và
trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần, làm căn cứ để tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền xác định thời hiệu xử phạt, mức phạt và thời gian thi hành biện pháp khắc
phục hậu quả quy định tại Điều 3 của Nghị định số 95/2016/NĐ-CP.
+ Phân chia mức xử phạt đối với hành vi trích dẫn
không ghi rõ nguồn thông tin thống kê và hành vi không đúng nguồn thông tin
thống kê khi phổ biến, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc
các ấn phẩm quy định tại Điều 13 của Nghị định số 95/2016/NĐ-CP bằng mức phạt
cảnh cáo và phạt tiền. Tương tự tại Điều 14 của Nghị định số 95/2016/NĐ-CP phân
chia mức xử phạt đối với hành vi để hư hỏng phiếu, biểu điều tra, báo cáo thống
kê.
+ Bổ sung quy định về phân định thẩm quyền xử phạt
hành chính cho các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử phạt để làm rõ tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm tại các điều, khoản cụ thể của Nghị
định 95/2016/ND-CP, giúp việc áp dụng được thuận lợi và chính xác.
+ Sửa đổi thứ tự các mức phạt tại Điều 17 của Nghị
định số 95/2016/NĐ-CP theo mức phạt tăng dân.
7. Nghị định số 101/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
122/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ và Nghị định số
57/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về
Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế
tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định
số 125/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 122/2016/NĐ-CP
a) Hiệu lực thi hành:Nghị
định này có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2021. Mức thuế suất thuế xuất khẩu
đối với mặt hàng đá thuộc Chương 25 và Chương 68; mặt hàng clanhke thuộc nhóm
25.23 được thực hiện theo lộ trình quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị
định này. Mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng thịt lợn được
thực hiện theo lộ trình quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.
Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với linh kiện ô
tô nhập khẩu thuộc nhóm 98.49 quy định tại Điều 7a Nghị định số
57/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định này được áp dụng đến ngày 31
tháng 12 năm 2027. Doanh nghiệp đã đăng ký tham gia Chương trình ưu đãi thuế quy
định trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành không phải đăng ký lại
Chương trình ưu đãi thuế và được hưởng ưu đãi theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp thay đổi, bổ sung nhóm xe, mẫu xe, số lượng mẫu xe đã đăng ký tham
gia Chương trình ưu đãi thuế, doanh nghiệp phải thực hiện đăng ký lại với cơ
quan hải quan
Bãi bỏ khoản 3 Điều 4 Nghị định số 122/2016/NĐ-CP.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành:
Thực hiện quy định Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016; Nghị
định số 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày
25/5/2020 về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. Việc thực hiện các
Nghị định này giai đoạn vừa qua về cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu khi
ban hành, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập
khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được; đảm bảo tính đồng bộ của pháp
luật, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2021 đến nay, dịch bệnh
Covid-19 diễn biến phức tạp, tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã
hội trong nước; một số ngành như chăn nuôi, xây dựng, chế biến chế tạo đang chịu
nhiều tác động tiêu cực do giá cả nguyên liệu đầu vào tăng đột biến. Cụ thể, giá
của một số mặt hàng như sắt thép, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi tăng
mạnh đã đặt ra sự cần thiết phải rà soát mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi
(MFN) đối với các mặt hàng này để có sự điều chỉnh phù hợp, qua đó, cùng với các
giải pháp chính sách khác góp phần kịp thời giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực
đến sản xuất, tiêu dùng trong nước. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các Nghị
định nêu trên cũng đã bộc lộ một số điểm bất cập cần được kịp thời rà soát, sửa
đổi để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy cải cách thủ tục hành
chính và phòng chống gian lận thương mại trong phân loại, áp mã.
Thời gian gần đây, hoạt động khai thác tài nguyên
khoáng sản diễn biến phức tạp, nhất là việc xuất khẩu một số loại tài nguyên,
khoáng sản thô chưa qua chế biến hoặc chỉ được chế biến ở mức giản đơn có xu
hướng tăng mạnh, như mặt hàng đá tự nhiên, các sản phẩm làm từ đá, clanhke. Theo
đó, nếu không có các biện pháp quản lý kịp thời, trong đó có biện pháp về thuế
xuất khẩu thì sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây cạn kiệt nguồn tài nguyên quốc gia,
nhất là các loại khoáng sản không tái tạo cần giữ lại cho sản xuất trong nước.
Trong bối cảnh này, để thực hiện mục tiêu góp phần
ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong nước, trong đó có ngành công nghiệp ô tô
bị ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 và bám sát Nghị quyết số 63/NQ-CP, Nghị quyết số
58/NQ-CP của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính
phủ, Bộ Tài chính đã phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính
phủ ban hành Nghị định số 101/2021/NĐ-CP ngày 15/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP.
c) Nội dung chủ yếu: Các
nội dung được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP tập trung vào 4
nhóm sau:
Thứ nhất, điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế nhập
khẩu MFN của một số nhóm mặt hàng để góp phần phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm
soát lạm phát theo yêu cầu của Chính phủ tại Nghị quyết số 63/NQ-CP và Nghị
quyết số 58/NQ-CP. Cụ thể, tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP đã điều chỉnh giảm
thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng như: thép, lúa mỳ, ngô,...
Đây là những nhóm mặt hàng có giá cả tăng cao trong giai đoạn vừa qua, tác động
đến chi phí đầu vào của nhiều ngành sản xuất trong nước. Cụ thể, tại Nghị định
số 101/2021/NĐ-CP, Chính phủ đã điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu MFN của
một số sản phẩm thép xây dựng, thép tấm với mức giảm thuế suất từ 5% đến 10%;
giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN của lúa mì xuống 0% và mặt hàng ngô từ 5%
xuống 2% để hỗ trợ cho ngành chăn nuôi trong nước trước sức ép của việc tăng giá
nguyên liệu...
Thứ hai, sửa đổi thuế suất thuế xuất khẩu và thuế
suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng để bảo vệ, thúc đẩy khai thác,
sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước, hạn chế việc xuất khẩu
tài nguyên thô, chưa qua chế biến và góp phần đơn giản biểu thuế, hạn chế gian
lận thương mại. Để kịp thời thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và
Nhà nước trong việc quản lý, khai thác tài nguyên quốc gia, góp phần bảo vệ
nguồn tài nguyên khoáng sản trong nước trước việc khai thác xuất khẩu tài nguyên
thô đang có xu hướng tăng mạnh, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây cạn kiệt nguồn tài
nguyên quốc gia, nhất là các loại khoáng sản không tái tạo, tại Nghị định số
101/2021/NĐ-CP, căn cứ khung thuế suất được Quốc hội quy định tại Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu, Chính phủ đã điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, thuế
suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng tài nguyên khoáng sản như đá,
clanhke. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho cho doanh nghiệp có thời gian điều
chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xử lý hàng tồn kho, việc điều chỉnh được
thực hiện theo lộ trình với mức tăng mỗi lần không quá 5%, cụ thể, điều chỉnh
tăng mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng đá tự nhiên từ 15%, 17%
lên 30% theo lộ trình 03 giai đoạn từ năm 2022-2024; đối với mặt hàng sản phẩm
làm từ đá tăng từ 5% lên 20% theo lộ trình 03 giai đoạn từ năm 2023-2025; tăng
thuế xuất khẩu mặt hàng clanhke từ 5% lên 10% bắt đầu từ 01/01/2023;...
Thứ ba, sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của
Chương trình ưu đãi thuế để sản xuất, lắp ráp xe ô tô được quy định tại Nghị
định số 125/2017/NĐ-CP và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP. Chương trình ưu đãi thuế
để sản xuất, lắp ráp xe ô tô là Chương trình lần đầu được áp dụng ở Việt Nam,
phù hợp với các cam kết quốc tế.
Việc triển khai Chương trình ưu đãi thuế để sản
xuất, lắp ráp xe ô tô quy định tại các Nghị định này đã góp phần quan trọng
trong việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025; thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô
tô đầu tư mở rộng sản xuất, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa và phát triển ngành công
nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô
tô trong nước đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của ô tô
nhập khẩu trong bối cảnh cắt giảm hàng rào thuế quan theo các Hiệp định FTA. Bên
cạnh đó, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều lĩnh vực phải ngừng hoạt động
trong thời gian dài, trong đó lĩnh vực vận tải, vận chuyển hành khách công cộng
gần như đình trệ cùng với thu nhập của người dân giảm sút đã làm cho doanh số
bán ra của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước sụt giảm mạnh,
nhất là dòng xe ô tô buýt, minibuýt và xe khách.
Theo đó, để tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp
đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, thúc đẩy phát triển ngành CNHT ô tô trong nước,
Nghị định số 101/2021/NĐ-CP đã điều chỉnh một số nội dung của Chương trình ưu
đãi thuế đối với sản xuất, lắp ráp ô tô, trong đó đã sửa đổi, bổ sung quy định
về kỳ xét ưu đãi thuế (Doanh nghiệp được lựa chọn kỳ xét ưu đãi thuế 6 tháng
hoặc 12 tháng); điều chỉnh điều kiện về sản lượng để tham gia Chương trình ưu
đãi thuế cho phù hợp với bối cảnh mới. Đặc biệt, trên cơ sở các kết quả đạt được
từ việc thực hiện Chương trình giai đoạn vừa qua, tại Nghị định số
101/2021/NĐ-CP, Chính phủ đã quyết định kéo dài thời gian thực hiện Chương trình
này đến 31/12/2027 để các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô chủ động xây dựng
phương án sản xuất, kinh doanh trong các năm tiếp theo. Qua đó, góp phần thúc
đẩy ngành công nghiệp ô tô trong nước phát triển theo định hướng của Đảng và Nhà
nước.
Thứ tư, điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, thuế
suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng nhằm đáp ứng các yêu cầu quản
lý, khắc phục các bất cập phát sinh trên thực tiễn. Cụ thể, để khắc phục các bất
cập phát sinh trên thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp; thúc đẩy xuất khẩu phát triển, nhất là trong
bối cảnh dịch bệnh Covid-19; đồng thời để đảm bảo đơn giản, dễ hiểu, dễ thực
hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP đã điều
chỉnh sửa đổi, một số nội dung tại Nghị định số 57/2020/NĐ-CP như: điều chỉnh
thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng hạt giống dùng để gieo
trồng trồng, lốp chuyên dùng cho khai thác than hầm lò, điều chỉnh điều kiện áp
dụng thuế suất thuế nhập khẩu MFN 10% đối với mặt hàng gel làm giảm sẹo ....
Cùng với đó, Nghị định đã thực hiện rà soát để quy định mức thuế suất như nhau
đối với những mặt hàng đang có mức thuế suất chênh lệch nhưng thiếu các tiêu chí
cụ thể để phân loại, áp mã, qua đó góp phần đơn giản hóa biểu thuế, giảm chi phí
giám định cho các doanh nghiệp và hướng tới mục tiêu hạn chế gian lận thương
mại.
Ban hành kèm theo Nghị định này 02 Phụ lục, cụ thể:
(1) Phụ lục I - Biểu thuế xuất khẩu theo danh mục mặt hàng chịu thuế; (2) Phụ
lục II - Biểu thuế nhập khẩu theo danh mục mặt hàng chịu thuế.
8. Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn; hải quan; kinh doanh bảo hiểm,
kinh doanh xổ số; quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước; kế toán, kiểm toán độc lập
a) Hiệu lực thi hành: Nghị
định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành: Nghị
định định được ban hành nhằm triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính số 67/2020/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2022, thực hiện Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 về Kế hoạch triển
khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính.
c) Nội dung chủ yếu: Nghị
định gồm 02 Chương và 09 Điều, cụ thể:
- Chương I về nội dung sửa đổi, bổ sung các Nghị
định trong lĩnh vực tài chính (từ Điều 1 đến Điều 5 Dự thảo) gồm:
+ Điều 1 sửa đổi, bổ sung Nghị định 125/2020/NĐ-CP
ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế,
hóa đơn;
+ Điều 2 sửa đổi, bổ sung Nghị định 128/2020/NĐ-CP
ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan;
+ Điều 3 sửa đổi, bổ sung Nghị định 98/2013/NĐ-CP
ngày 28/08/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
48/2018/NĐ-CP và Nghị định 80/2019/NĐ-CP);
+ Điều 4 sửa đổi, bổ sung Nghị định 63/2019/NĐ-CP
ngày 11/07/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ
quốc gia; kho bạc nhà nước;
+ Điều 5 sửa đổi, bổ sung Nghị định 41/2018/NĐ-CP
ngày 12/03/2018 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực kế toán, kiểm toán độc lập;
+ Điều 6 về bổ sung, bãi bỏ một số từ, cụm từ, bãi
bỏ khoản tại một số điều tại các Nghị định.
- Chương II về điều khoản thi hành (từ Điều 7 đến
Điều 9 Dự thảo), bao gồm quy định chuyển tiếp, trách nhiệm thực hiện, hiệu lực
thi hành.
Nghị định số 102/2021/NĐ-CP quy định các các nội
dung sửa đổi cho phù hợp với Luật như:
(1) Bổ sung quy định hành vi vi phạm hành chính đã
kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện trong lĩnh vực hải quan;
quản lý, sử dụng tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, dự trữ quốc
gia và kho bạc nhà nước; kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số;
(2) Bổ sung quy định nguyên tắc xác định mức phạt
tiền đối với một số hành vi vi phạm hành chính cụ thể trong trường hợp có tình
tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công;
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước; hải
quan; lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số;
(3) Bổ sung nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
đối với vi phạm hành chính nhiều lần trong lĩnh vực hải quan tại Nghị định
128/2020/NĐ-CP (bổ sung Điều 2a sau Điều 2);
(4) Bổ sung quy định thi hành biện pháp khắc phục
hậu quả trong lĩnh vực hải quan tại Nghị định 128/2020/NĐ-CP (bổ sung Điều 33a
sau Điều 33);
(5) Bổ sung nguyên tắc áp dụng hình thức tước quyền
sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xổ số có thời hạn vào Điều 3
Nghị định 98/2013/NĐ-CP;
(6) Sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính của các lực lượng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định
tại Nghị định 128/2020/NĐ-CP cụ thể là hải quan (Điều 29), Bộ đội Biên phòng
(Điều 30), Cảnh sát biển (Điều 30) cho phù hợp với quy định của Luật XLVPHC
2020.
(7) Quy định về miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thuế, hải quan để đảm bảo phù hợp với quy định của Luật
XLVPHC 2020.
(8) Quy định cụ thể giá trị bằng tiền của tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền tịch thu của các chức danh có
thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực dự trữ nhà nước, quản lý, sử dụng tài sản công
tại Nghị định 63/2019/NĐ-CP và lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập tại Nghị định
41/2018/NĐ-CP để đảm bảo phù hợp quy định tại điểm k khoản 73 Điều 1 Luật XLVPHC
2020.
Đồng thời, Nghị định số 102/2021/NĐ-CP cũng sửa đổi,
bổ sung một số nội dung để phù hợp với thực tế triển khai thực hiện và khắc phục
vướng mắc như (i) Bổ sung 01 hành vi “Làm mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập nhưng
chưa khai thuế” vào điểm c khoản 3 Điều 26 Nghị định 125/2020/NĐ-CP để tránh bỏ
sót những vi phạm làm mất, cháy, hỏng hóa đơn (liên giao khách hàng) của người
bán nhưng chưa đến kỳ khai thuế hoặc đến kỳ nhưng chưa khai thuế nhằm phù hợp
với thực tiễn phát sinh; (ii) Bổ sung hành vi vi phạm hành chính cho, bán hóa
đơn đặt in đã phát hành theo hướng sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 22 Nghị
định 125/2020/NĐ-CP; (iii) Bổ sung hành vi lập không đầy đủ các nội dung bắt
buộc trên hóa đơn theo quy định thành điểm h khoản 4 Điều 24 Nghị định
125/2020/NĐ-CP; (iv) Bổ sung quy định thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính
trong lĩnh vực kho bạc nhà nước cho thanh tra viên, người được giao thực hiện
nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ tại Nghị định
63/2019/NĐ-CP (điểm c Khoản 1 Điều 62); bổ sung hai Điều là Điều 33a, Điều 51a
về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo
hiểm, kinh doanh xổ số tại Nghị định 98/2013/NĐ-CP.
9. Nghị định số 103/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 11
năm 2021 của Chính phủ quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô, rơ moóc
hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự ô tô sản xuất, lắp
ráp trong nước
a) Hiệu lực thi hành: Nghị
định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2021 đến hết ngày 31/5/2022.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành: Vừa
qua, trước tình hình dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4 tiếp tục ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sản xuất kinh doanh, để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp
sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô
trong nước nối lại chuỗi cung ứng, mở rộng đầu tư sản xuất, lắp ráp ô tô; đồng
thời khuyến khích các hãng sản xuất, lắp ráp ô tô lớn của nhiều quốc gia trên
thế giới đầu tư, mở rộng dây chuyền sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam, góp
phần kích cầu tiêu dùng, trên cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và qua những tác
động tích cực của việc giảm 50% mức thu LPTB năm 2020 đối với xe ô tô sản xuất,
lắp ráp trong nước thì Bộ Tài chính đã phối hợp với các cơ quan liên quan xây
dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 103/2021/NĐ-CP ngày 26/11/2021 về
quy định mức thu LPTB đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô
tôt và các loại xe tương tự xe ô tô sản xuất, lắp rắp trong nước.
Mục đích ban hành:
- Góp phần kích thích tiêu dùng trong nước.
- Góp phần tiếp tục hỗ trợ, giảm bớt khó khăn cho
các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước trong bối cảnh dịch Covid-19,
góp phần thúc đẩy quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội sau dịch
Covid-19.
- Góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển
công nghiệp ô tô trong từng thời kỳ, kích thích thị trường ô tô phát triển.
c) Nội dung chủ yếu: Nghị
định số 103/2021/NĐ-CP gồm 2 Điều: Điều 1 quy định mức thu LPTB đối với ô tô sản
xuất, lắp ráp trong nước và Điều 2 quy định về hiệu lực thi hành.
- Phạm vi điều chỉnh: Mức thu LPTB đối với ô tô sản
xuất, lắp ráp trong nước.
- Đối tượng áp dụng: Cơ quan thuế; người nộp lệ phí
trước bạ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
- Nội dung quy định, cụ thể:
+ Từ ngày 01 tháng 12 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng
5 năm 2022: Mức thu lệ phí trước bạ bằng 50% mức thu quy định tại Nghị định số
20/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ về
lệ phí trước bạ; các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định
hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu
lệ phí trước bạ tại địa phương và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu
có).
+ Từ ngày 01 tháng 6 năm 2022 trở đi: Mức thu lệ phí
trước bạ tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21
tháng 02 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
140/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 tháng 2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ; các
Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại
địa phương và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
10. Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11
năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số
23/2021/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc
thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp
khó khăn do đại dịch COVID-19
a) Hiệu lực thi hành: Quyết
định này có hiệu lực từ ngày ký ban hành (ngày 06 tháng 11 năm 2021).
Không áp dụng quy định của quyết định này đối với
những trường hợp đã được chi trả hỗ trợ hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt danh sách hỗ trợ nhưng chưa chi trả hỗ trợ theo quy định của Quyết định
số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về
việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động
gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành: Kịp
thời hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch
COVID-19, góp phần phục hồi sản xuất, giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại
dịch COVID-19 trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; ổn định tình hình lao động,
việc làm, duy trì mục tiêu vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế.
c) Nội dung chủ yếu:Quyết
định gồm 03 điều với nội dung chính như sau:
- Sửa đổi, bổ sung về điều kiện
hưởng về chính sách hỗ trợ đào tạo từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động tiếp cận chính sách.
- Sửa đổi, bổ sung các điều kiện hưởng chính sách
tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương, ngừng việc, người lao
động chấm dứt hợp đồng lao động không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp
theo hướng nới lỏng các điều kiện cho người lao động, người sử dụng lao động để
đảm bảo tính khả thi và phù hợp với tình hình mới "thích ứng linh hoạt" (bao gồm
cả người lao động phải điều trị COVID-19, cách ly y tế, trong các khu vực bị
phong toả; do người sử dụng lao động bị tạm dừng hoạt động toàn bộ hoặc một
phần; có trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm sản xuất kinh
doanh trên địa bàn thực hiện chỉ thị 16/CT-TTg; bố trí lại sản xuất lao động; áp
dụng các biện pháp không hoạt động/ngừng hoạt động/hoạt động hạn chế/hoạt động
có điều kiện/hoạt động hạn chế, có điều kiện theo quy định tại Nghị quyết số
128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an
toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19).
- Bãi bỏ điều kiện Bản sao văn bản yêu cầu cách ly
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian
từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với chính sách
hỗ trợ lao động ngừng việc.
- Lược bỏ hết các yêu cầu bản sao có chứng thực hoặc
bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu (chỉ cần bản sao) trong tất cả các chính
sách.
- Sửa đổi, bổ sung các quy
định liên quan tới chính sách và hồ sơ hỗ trợ cho F0, F1, trong đó có bổ sung
quy định về F0 điều trị tại nhà. Đồng thời, đơn giản hoá thành phần hồ sơ như đối
với trường hợp mất hoặc không mang theo các giấy tờ tuỳ thân thì thay thế bằng
giấy cam kết chịu trách nhiệm về thông tin của F0, F1.
- Sửa đổi điều kiện đối với hướng dẫn viên du lịch
để hỗ trợ cho hướng dẫn viên du lịch tại điểm, do trước kia là quy định chung
thành phần hồ sơ cùng với hướng dẫn viên du lịch quốc tế và nội địa.
- Bổ sung Điều 37a vào sau Điều 37 quy định việc hỗ
trợ đối với hộ kinh doanh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những
người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời
vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, giao Uỷ ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định về đối tượng được hỗ
trợ; hồ sơ, thủ tục hỗ trợ trên các nguyên tắc được quy định trong Quyết định số
33/2021/QĐ-TTg.
- Sửa đổi, bổ sung các trường hợp người sử dụng lao
động được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách, theo hướng nới lỏng một số điều kiện
và phù hợp với tình hình mới là thích ứng linh hoạt theo Nghị quyết 128/NQ-CP;
bãi bỏ về điều kiện phải có Bản sao thông báo quyết toán thuế thu nhập doanh
nghiệp năm 2020 của cơ quan thuế đối với chính sách cho vay vốn trả lương từ
Ngân hàng Chính sách.
Ban hành kèm theo Quyết định này Phụ lục các Biểu
mẫu về sửa đổi, bổ sung một số mẫu tại phụ lục của Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg,
cụ thể: (1) Mẫu số 02 - Phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng
nghề và duy trì việc làm cho người lao động; (2) Mẫu số 02a - Danh sách người
lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đề nghị xác nhận để tham gia đào tạo; (3)
Mẫu số 07 - Đề nghị hỗ trợ (Dành cho người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao
động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp); (4) Mẫu số 08b - Danh
sách trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi thuộc diện F0, F1 được hỗ trợ; (5)
Mẫu số 08c - Danh sách F0, F1, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi nhận hỗ
trợ; (6) Mẫu số 11 - Đề nghị hỗ trợ (Dành cho hộ kinh doanh có đăng ký kinh
doanh và có trong danh bạ của cơ quan thuế); (7) Mẫu số 12a - Đề nghị vay vốn để
trả lương ngừng việc cho người lao động; (8) Mẫu số 12b - Đề nghị vay vốn để trả
lương phục hồi sản xuất (Áp dụng đối với người sử dụng lao động phải tạm dừng
hoạt động hoặc có trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm sản
xuất, kinh doanh trên địa bàn thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg hoặc áp dụng các
biện pháp theo quy định tại Nghị quyết 128/NQ-CP); (10) Mẫu số 12c - Đề nghị vay
vốn để trả lương phục hồi sản xuất (Áp dụng đối với người sử dụng lao động hoạt
động trong lĩnh vực vận tải, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú và đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).
11. Quyết định số 34/2021/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11
năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử trên
nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và Cơ
sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh
a) Hiệu lực thi hành: Quyết
định này có hiệu lực từ ngày 09 tháng 11 năm 2021.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành:
- Cơ
sở thực tiễn:
Hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 trên thế giới và Việt Nam đang diễn biến
phức tạp, tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống của xã hội. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và phục vụ công tác
phòng, chống dịch bệnh Covid-19 nói riêng là rất cấp thiết. Trong thời gian qua,
với nền tảng sẵn có của hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu
quốc gia về xuất nhập cảnh, hệ thống Căn cước công dân, Bộ Công an đã nghiên
cứu, triển khai nhiều giải pháp, ứng dụng công nghệ số để định danh, xác thực
chính xác thông tin cá nhân góp phần phòng, chống dịch Covid-19 (như phục vụ
công tác quản lý di, biến động của dân cư, khai báo y tế, cấp giấy đi đường,
truy vết thông tin tiếp xúc của người mắc bệnh, đăng ký tiêm chủng, đăng ký, hỗ
trợ an sinh xã hội đối với người nghèo theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày
01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử
dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19…). Tuy nhiên, hiện nay việc định
danh và xác thực điện tử thông tin của cá nhân vẫn chưa được áp dụng rộng rãi,
hầu hết các ứng dụng phòng, chống dịch đều thực hiện xác thực thông tin tài
khoản của cá nhân từ các nguồn thông tin khác nhau, không có kiểm chứng, xác
thực nên khó bảo đảm tính chính xác, đồng nhất, phải phụ thuộc nhiều vào tính tự
giác, trung thực trong khai báo của cá nhân.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng định danh và xác thực điện tử đối với
cá nhân còn đáp ứng yêu cầu quản lý đối với giao dịch điện tử trên môi trường
mạng nhằm hạn chế hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, xâm phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín gây mất an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, việc
giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử hiện nay cũng chưa có cơ
chế để định danh, xác thực thông tin người dùng bảo đảm tính chính xác, đồng
nhất, có kiểm chứng. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cung cấp và sử dụng dịch vụ hành chính công
trực tuyến.
Do vậy, cần thiết phải hoàn thiện ngay cơ sở pháp lý về định danh và xác thực
điện tử với mô hình tập trung, thống nhất; chỉ cung cấp một định danh gốc, danh
tính điện tử duy nhất đối với cá nhân và thực hiện hoạt động kết nối, chia sẻ
thông tin giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia và các
cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
- Căn
cứ pháp lý:
Luật Đầu tư ngày 17 tháng 6 năm 2020 quy định dịch vụ Định danh và xác thực điện
tử là ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại số thứ tự 131, phụ lục 4 Danh mục
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Ngày 15/4/2015,
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW. Theo đó, Chính phủ giao các nhiệm vụ
cụ thể xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển
CNTT tạo hành lang pháp lý cho các dịch vụ CNTT, trong đó đẩy mạnh việc sử dụng
chứng thực chữ ký số và xác thực điện tử, bảo mật thông tin trong cơ quan nhà
nước và tổ chức, doanh nghiệp.
Để nâng cao hiệu quả trong giải quyết thủ tục hành chính, ngày 23/4/2018, Chính
phủ ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa
liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Theo đó, Cổng Dịch vụ công quốc
gialà hợp phần giúp hỗ trợ việc kết nối, xác thực danh tính điện tử, cho phép tổ
chức, cá nhân đăng ký tài khoản sử dụng; cung cấp chức năng đăng nhập một lần
(Single-Sign-On) và các cơ chế xác thực người dùng để thực hiện các thủ tục hành
chính. Đồng thời, yêu cầu đối với Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một
cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh hỗ trợ xác thực thông tin công dân, doanh nghiệp
thông qua việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu quốc
gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ liệu khác liên quan.
Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày
08/04/2021 quy định về thực
hiện thủ
tục hành chính trên môi trường điện
tử. Trong đó, tại khoản 1 Điều 7 quy định: Việc
đăng ký tài khoản thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử được thực
hiện tại Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh hoặc sử
dụng danh tính điện tử do các tổ chức cung cấp định danh điện tử đã kết nối,
tích hợp với Nền tảng trao đổi định danh điện tử trên Cổng dịch vụ công quốc
gia.
Ngày 16/6/2021, Văn phòng Chính phủ có Công văn số
4011/VPCP-KSTT thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an
chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng Hệ thống định danh
và xác thực điện tử; Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ giao Bộ
Công an xây dựng Hệ thống định danh và xác thực điện tử.
Ngày 12/9/2021, Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ
Phạm Minh Chính tại Thông báo số 241/TB-VPCP ngày 12/9/2021 trong đó giao Bộ
Công an chủ trì: “Xây dựng Nghị định về định danh và xác thực điện tử, trước
mắt để có cơ sở pháp lý triển khai trên toàn quốc tham mưu Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định về định danh và xác thực điện tử; Quyết định về cung cấp dữ
liệu cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khi kết nối, chia sẻ…”.
- Mục đích ban hành:
+ Tạo
cơ sở pháp lý cho việc đăng
ký, quản lý định danh và xác thực điện tử của cá nhân trên nền tảng Cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu quốc gia
về xuất nhập cảnh; tạo
điều kiện thuận lợi cho cá nhânkhi tham gia giao dịch điện
tử,
góp phần đảm bảo an ninh, an toàn thông tin.
+Khắc
phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai ứng dụng công
nghệ thông tin thời
gian qua; hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về chuyển đổi số hoạt động của cơ quan
nhà nước hướng tới phát triển Chính
phủ số, kinh tế số, xã hội số;
cung cấp các dịch vụ công, dịch vụ thương mại điện tử, giao dịch điện tử.
c) Nội dung chủ yếu: Quyết
định gồm 06 chương, 19điều:
Chương I (Quy định chung) gồm 03 điều quy định về: Phạm vi điều chỉnh; giải
thích từ ngữ và nguyên tắc thực hiện.
Chương II (Danh tính điện tử, mức độ của tài khoản định danh điện tử) gồm 02
điều quy định về: Danh tính điện tử; mức độ của tài khoản định danh điện tử.
Chương III (Đăng ký, kích hoạt tài khoản định danh điện tử) gồm 02 điều quy định
về: Đăng ký tài khoản định danh điện tử; kích hoạt tài khoản định danh điện tử.
Chương IV (Quản lý, sử dụng tài khoản định danh điện tử) gồm 04 điều quy định
về: Sử dụng tài khoản định danh điện tử; cập nhật danh tính điện tử; khóa tài
khoản định danh điện tử; khôi phục tài khoản định danh điện tử đã khóa.
Chương V (Quyền, nghĩa vụ của bên sử dụng và trách nhiệm của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương) gồm 05 điều quy định về: Quyền và nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ;
trách nhiệm của Bộ Công an; trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông; trách
nhiệm của Bộ Quốc phòng; trách nhiệm của các bộ khác, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chương VI (Điều khoản thi hành) gồm 03 điều quy định về: Hiệu lực thi hành; điều
khoản chuyển tiếp; trách nhiệm thi hành.
- Nội dung cơ bản
+ Phạm vi điều chỉnh: Quyết định này quy định về định danh và xác thực điện tử
đối với công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam trên nền tảng Cơ sở
dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và Cơ sở dữ liệu
quốc gia về xuất nhập cảnh; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan.
+ Giải
thích từ ngữ: Dự thảo Quyết định quy định giải thích đối với các thuật ngữ về
danh tính điện tử, chủ thể danh tính điện tử, định danh điện tử, xác thực điện
tử, ứng dụng định danh điện tử, hệ thống định danh và xác thực điện tử, tài
khoản định danh điện tử, bên sử dụng dịch vụ.
+ Việc
thực hiện Quyết định này được thực hiện dựa trên những nguyên tắc sau: Cá
nhân, tổ chức được khai thác và sử dụng danh tính điện tử phải tuân thủ quyền
riêng tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo mật thông tin tài khoản định danh điện
tử của cá nhân; việc đăng ký, sử dụng, cung cấp, quản lý danh tính điện tử, tài
khoản định danh điện tử phải bảo đảm chính xác, an toàn, bảo mật; tài khoản định
danh điện tử Mức độ 2 có giá trị sử dụng tương đương thẻ Căn cước công dân, hộ
chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế do bên sử dụng dịch vụ quyết định;
định danh và xác thực điện tử là dịch vụ cung cấp để phục vụ các tiện ích của cá
nhân; tài
khoản định danh điện tử có giá trị sử dụng tương đương thẻ Căn cước công dân, hộ
chiếu hoặc giấy tờ khác được quy định tại khoản 2 Điều 5 Quyết định này; định
danh và xác thực điện tử là dịch vụ cung cấp để phục vụ các tiện ích của cá
nhân.
+ Danh
tính điện tử: Quy định rõ danh tính điện tử đối với công dân Việt Nam và danh
tính điện tử đối với người nước ngoài.
+ Mức
độ của tài khoản định danh điện tử: dự thảo Quyết định quy định tài khoản định
danh điện tử có 02 mức độ:
Mức độ 1: Tài khoản được tạo lập
trong trường hợp thông tin của công dân kê khai đã được so sánh, đối chiếu tự
động trùng khớp với thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Tài khoản
được tạo lập trong trường hợp thông tin của người nước ngoài đã được đối sánh
trùng khớp với thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh, trừ ảnh
chân dung và vân tay;
Mức độ 2: Tài khoản được tạo lập trong trường hợp thông tin của cá nhân kê khai
đã được xác minh bằng ảnh chân dung hoặc vân tay trùng khớp với thông tin trong
Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân hoặc Cơ sở dữ
liệu quốc gia về xuất nhập cảnh.
Việc lựa chọn sử dụng mức độ của của
tài khoản định danh điện tử do bên sử dụng dịch vụ quyết định.
+ Đăng
ký tài khoản định danh điện tử:
Dự thảo Quyết định quy định cá nhân từ đủ 14 tuổi
trở lên đăng ký tài khoản định danh điện tử thông qua ứng dụng định danh số; đối
với cá nhân chưa đủ 14 tuổi thì đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của
cha, mẹ hoặc người giám hộ; đối với người hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất
năng lực hành vi dân sự thì đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của người
giám hộ.
Các thông tin cần khai báo được hiển thị trên thiết
bị điện tử khi cá nhân đăng ký tài khoản định danh điện tử, gồm: Số định danh cá
nhân; số hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế (đối với người nước
ngoài); họ, tên đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; quốc tịch (đối với
người nước ngoài); số điện thoại và email. Nếu đăng ký cho người chưa đủ 14
tuổi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự
thì kê khai thêmthông tin của người đó.
+ Kích hoạt tài khoản định danh điện
tử:
Dự thảo Quyết định quy định về kích hoạt tài khoản định danh điện
tử theo hướng công dân Việt Nam, người nước ngoài đăng ký tài khoản định danh
điện tử, Hệ thống định danh và xác thực điện tử so sánh, đối chiếu tự động thông
tin công dân, người nước ngoài đã kê khai với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư,
Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh nếu
trùng khớpthì tạo lập tài khoản định danh điện tử Mức độ 1 và gửi yêu cầu kích
hoạt tài khoản cho người đăng ký để thực hiện việc kích hoạt. Trường hợp kích
hoạt tài khoản Mức độ 2 thì so sánh, đối chiếu thêm ảnh chân dung hoặc vân tay
của người đăng ký.
+ Sử
dụng tài khoản:
Việc tạo lập tài khoản cá nhân để thực hiện thủ tục
hành chính trên môi trường điện tử phải sử dụng danh tính điện tử do Bộ Công an
cung cấp. Việc sử dụng tài khoản định danh điện tử được tạo lập bởi Hệ thống
định danh và xác thực điện tử của Bộ Công an để thực hiện thủ tục hành chính
trên môi trường điện tử do cơ quan quản lý Cổng dịch vụ Công quyết định.
Việc sử dụng tài khoản định danh điện tử, xác thực
điện tử để thực hiện hoạt động không thuộc trường hợp thực hiện thủ tục hành
chính trên môi trường điện tử thì do tổ chức, cá nhân lựa chọn sử dụng.
+ Cập nhật danh tính điện tử
Khi có thay đổi thông tin danh tính điện tử thì cá
nhân là công dân Việt Nam có tài khoản định danh điện tử thực hiện việc điều
chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước
công dân; đối với người nước ngoài có tài khoản định danh điện tử thực hiện việc
điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh theo quy
định pháp luật có liên quan.
Hệ thống định danh và xác thực điện tử cập nhật,
đồng bộ thông tin về danh tính điện tử từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ
sở dữ liệu căn cước công dân và Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh.
+ Khóa tài khoản định danh điện tử
Dự thảo Quyết định quy định cụ thể về các trường hợp bị khóa tài
khoản định danh điện tử gồm:Khi chủ thể danh tính
điện tử yêu cầu khóa tài khoản định danh điện tử của mình; khi có yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng, cơ quan chức năng có thẩm quyền hoặc bên sử dụng dịch
vụ; khi chủ thể danh tính điện tử vi phạm điều khoản dịch vụ đã thỏa thuận với
cơ quan cấp tài khoản định danh điện tử; khi thực hiện xác lập lại hoặc hủy số
định danh cá nhân; khi chủ thể danh tính điện tử chết.
+ Khôi phục tài khoản định danh điện tử
Dự thảo Quyết định quy định cụ thể về các trường hợp được khôi
phục tài khoản định danh điện tử gồm: Khi chủ thể của danh
tính điện tử có
yêu cầu khôi phục tài khoản định danh điện tử;khi có yêu cầu của cơ quan tiến
hành tố tụng, cơ quan chức năng có thẩm quyền hoặc bên sử dụng dịch vụ; khi chủ
thể của danh tính điện tửđã
khắc phục vi
phạm điều khoản thỏa thuận sử dụng dịch vụ và có yêu cầu khôi phục tài khoản
định danh điện tử.
+ Quyền
và nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ và trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Dự thảo Quyết định quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ;
trách nhiện của Bộ Công an; trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông; trách
nhiệm của Bộ Quốc phòng; trách nhiệm của các bộ khác, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
+ Điều
khoản thi hành: Dự thảo Quyết định quy định về hiệu lực thi hành; điều khoản
chuyền tiếp và trách nhiệm thi hành.
12. Quyết định số 35/2021/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11
năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ một số văn bản quy pham pháp luật của
Thủ tướng Chính phủ
a) Hiệu lực thi hành:
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
b) Sự cần thiết, mục đích ban hành:Quyết
định được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 08/4/2018 của
Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2018, trong đó Chính phủ
giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật để chấm dứt hiệu lực các văn bản do Thủ tướng Chính phủ ban
hành không còn được áp dụng trên thực tế nhưng chưa có văn bản xác định hết hiệu
lực.
c) Nội dung chủ yếu: Quyết
định gồm 02 Điều bãi bỏ một số văn bản quy pham pháp luật của Thủ tướng Chính
phủ, cụ thể: (1) Bãi bỏ toàn bộ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng
Chính phủ: Quy định việc bãi bỏ toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật của Thủ
tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trước đây; (2) Điều khoản thi
hành.
Trên đây là Thông cáo báo chí văn bản quy
phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 11 năm
2021, Bộ Tư pháp xin thông báo./.
|
Nơi nhận:
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh (để báo
cáo);
- Văn phòng Chính phủ;
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ;
- Báo Điện tử Chính phủ;
- Cục CNTT Bộ Tư pháp (để đăng tải);
- Báo Pháp luật Việt Nam (để đăng tải);
- Lưu: VT, VP (TT).
|
TL. BỘ TRƯỞNG
CHÁNH VĂN PHÒNG
(Đã ký)
Nguyễn Quốc Hoàn
|