Địa lý
Một số thông tin cơ bản về địa lý Việt Nam
Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á,
tiếp giáp Biển Đông, là một biển rìa thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương. Lãnh thổ
Việt Nam bao gồm đất liền, nội thủy, lãnh hải, vùng biển, các đảo, quần đảo và
vùng trời thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia theo quy
định của Hiến pháp, Luật Biển Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật
Biển năm 1982 (UNCLOS).
Việt Nam có đường
biên giới trên đất liền tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, giáp Lào và
Campuchia ở phía Tây; phía Đông và phía Nam tiếp giáp Biển Đông; phía Tây Nam
tiếp giáp Vịnh Thái Lan. Tuyến biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài
1449,566 km được ghi nhận tại “Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên
đất liền Việt Nam - ký ngày 16/3/2016. Tuyến biên giới Trung Quốc giữa chính phủ
nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa”, ký ngày 18/11/2009. Tuyến biên
giới Việt Nam - Lào dài 2337,459 km được ghi nhận tại “Nghị định thư về đường
biên giới và mốc quốc giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào”, ký
ngày 16/3/2016. Tuyến biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia dài khoảng
1257 km, đã thực hiện phân giới cắm mốc khoảng 84%, chiều dài đường biên giới đã
thực hiện phân giới cắm mốc là 1044,985 km được ghi nhận tại “Nghị định thư phân
giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc
Campuchia”, ký ngày 05/10/2019. Phạm vi lãnh thổ trên biển được mở rộng theo các
vùng biển được xác lập từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải theo quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trên bản
đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S kéo dài khoảng 1.650 km theo hướng Bắc
- Nam, phần rộng nhất trên đất liền khoảng 500 km, nơi hẹp nhất gần 50 km. Bản
đồ hành chính Việt Nam thể hiện lãnh thổ trong phạm vi kinh tuyến từ 102o
đến 118o
độ kinh Đông, vĩ tuyến từ 04o30’
đến 23o30’
độ vĩ Bắc. Phạm vi thể hiện trên bản đồ hành chính hoặc bản đồ địa hình quốc gia
không phải là giới hạn pháp lý của chủ quyền quốc gia trên biển. Chủ quyền,
quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển được xác định theo Hiến
pháp, Luật Biển Việt Nam, các tuyên bố về đường cơ sở của Chính phủ và Công ước
của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Địa hình Việt Nam
đa dạng và phức tạp, bao gồm các kiểu địa hình đồi núi, cao nguyên, đồng bằng,
bờ biển và thềm lục địa. Địa hình hiện nay là kết quả của quá trình phát triển
địa chất, kiến tạo và địa mạo lâu dài, dưới tác động mạnh mẽ của khí hậu nhiệt
đới ẩm gió mùa và các quá trình phong hóa, xâm thực, bồi tụ. Địa hình Việt Nam
có xu hướng thấp dần từ các vùng núi cao ở phía Tây Bắc và phía Tây ra các đồng
bằng, vùng ven biển và thềm lục địa ở phía Đông và Đông Nam. Xu thế phân hóa này
được thể hiện qua sự phân bố độ cao địa hình, cấu trúc các dãy núi, cao nguyên
và đặc điểm của các hệ thống sông lớn. Địa hình Việt Nam chủ yếu là địa hình đồi
núi, chiếm khoảng 3/4 diện tích phần đất liền, nhưng phần lớn là đồi và núi
thấp. Địa hình có độ cao dưới 1.000 m chiếm khoảng 85% diện tích phần đất liền,
phản ánh đặc trưng địa hình nhiệt đới ẩm gió mùa đã trải qua quá trình bóc mòn
và san bằng lâu dài. Địa hình núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm khoảng 1% diện tích
phần đất liền, tập trung chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc và một số khối núi cao thuộc
dãy Trường Sơn.
Địa hình đồi núi
Việt Nam có cấu trúc phức tạp, với hướng chủ đạo là Tây Bắc - Đông Nam, xen kẽ
với các hệ thống cánh cung ở vùng Đông Bắc. Các vùng núi cao và đồ sộ nhất phân
bố ở phía Tây và Tây Bắc, trong đó đỉnh Phan-xi-phăng (3.143 m) là đỉnh cao nhất
của bán đảo Đông Dương. Nhìn chung, địa hình có xu thế thấp dần từ các vùng núi
và cao nguyên phía Tây ra các đồng bằng và vùng biển phía Đông và Đông Nam. Từ
khu vực đèo Hải Vân trở vào Nam, địa hình mang đặc trưng của các khối núi và cao
nguyên rộng lớn phát triển trên nền đá magma và biến chất, xen kẽ với hệ thống
các cao nguyên bazan liên tiếp hợp thành vùng Tây Nguyên; phía Đông là hệ thống
núi Trường Sơn Nam và các đồng bằng ven biển hẹp.
Đồng bằng chiếm
khoảng một phần tư (1/4) diện tích phần đất liền Việt Nam và được phân chia
thành nhiều khu vực bởi hệ thống đồi núi. Hai đồng bằng lớn nhất là đồng bằng
sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam. Nằm giữa hai đồng
bằng lớn là hệ thống các đồng bằng ven biển miền Trung, phát triển dọc theo bờ
Tây Biển Đông. Việt Nam có vùng biển rộng lớn ở phía Đông, phía Nam và phía Tây
Nam, với đường bờ biển dài khoảng 3.260 km, kéo dài từ khu vực Đông Bắc đến khu
vực Tây Nam của lãnh thổ.
Các vùng biển
thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông
và Vịnh Thái Lan bao gồm hệ thống đảo, quần đảo và thềm lục địa rộng lớn. Khu
vực Vịnh Bắc Bộ tập trung nhiều đảo và đá lớn nhỏ, chủ yếu phân bố trong khu vực
Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, quần đảo Cát Bà và đảo Bạch Long Vĩ. Trên Biển
Đông có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ở phía Nam và Tây Nam có các quần
đảo Côn Đảo, Phú Quốc và Thổ Chu.
Bộ Nông nghiệp và
Môi trường (trước đây là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã ban hành Danh mục địa
danh 5.774 đảo, đá, bãi cạn thuộc chủ quyền Việt nam, bãi ngầm và một số đối
tượng địa lý khác trên vùng biển Việt Nam kèm theo Thông tư số 33/2024/TT-BTNMT.
Danh mục địa danh được điều chỉnh, bổ sung khi xuất hiện hoặc thay đổi đối tượng
địa lý trên vùng biển Việt Nam.
(Nguồn: Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam)